Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Đại học Quốc gia Tomsk”

Từ Wiki Du học Nga
Tạo trang mới với nội dung “Thể loại:Đại học Nga {| class="infobox" style="float: right; width: 300px; font-size: 90%; text-align: left; border: 1px solid #aaa; background: #f8f9fa; padding: 4px;" |- | colspan="2" style="text-align:center; width:30px; height:30px"| '''ĐẠI HỌC QUỐC GIA TOMSK''' |- | colspan="2" style="text-align:center;background-color:#add8e6; width:30px; height:30px"| '''Национальный исследовательский Томск…”
 
 
(không hiển thị 25 phiên bản ở giữa của cùng người dùng)
Dòng 30: Dòng 30:
|-
|-
! Sinh viên
! Sinh viên
| 15.000
| 16.000 (2025) <ref>[https://en.tsu.ru/about/tsu_facts.php: Facts and Figures]</ref>
|-
|-
! Sv đại học
! Sv đại học
Dòng 36: Dòng 36:
|-
|-
! Sv quốc tế
! Sv quốc tế
|  
| 2.000
|-
|-
! Thành tích
! Thành tích
|  
|  
|-
|-
| colspan="2" | '''''Huân chương Cách mạng Tháng Mười''' (Liên Xô)<br>'''Huân chương Cờ đỏ Lao động''' (Liên Xô)<br>'''Huân chương Lao động Vẻ vang''' (Nga)<br>'''Huân chương Sukhbaatar''' (Mông Cổ)<br>'''Huân chương Hữu nghị''' (Việt Nam)'' <ref>[https://vovworld.vn/vi-VN/xa-hoi-doi-song/viet-nam-tang-huan-chuong-huu-nghi-cho-truong-dai-hoc-hang-dau-cua-lb-nga-705369.vov: Việt Nam tặng Huân chương Hữu nghị cho trường Đại học hàng đầu của LB Nga] 06 Tháng Mười Hai, 2018</ref>
| colspan="2" | '''''Huân chương Cách mạng Tháng Mười''' (Liên Xô)<br>'''Huân chương Cờ đỏ Lao động''' (Liên Xô)''
|  
|  
|-
|-
| colspan="2" style="text-align:center;" | [[Tập tin:Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov.jpg|không_khung]]
| colspan="2" style="text-align:center;" | [[Tập tin:Đại học Quốc gia Tomsk.jpg|không_khung]]
|}
|}
'''Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov''' (tiếng Nga: '''''Московский государственный университет имени М. В. Ломоносова''''') là một trong những [[Đại học Cổ điển|trường đại học cổ điển]] lâu đời nhất <ref>Университетская идея впервые реализовалась в России в 1725 году в лице учреждённого в Петербурге Академического университета. Но первый образец классической для России университетской формы явил основанный в 1755 году Московский университет (''Чесноков В. И.'' Некоторые актуальные вопросы истории дореволюционных российских университетов // Российские университеты в XVIII-XX веках: Сб. науч. статей: вып. 6. — Воронеж.: Издательство Воронежского государственного университета, 2002. — С. 141—146. — ISBN 5-7455-1236-9.)</ref> <ref>Формально в момент образования Московского университета на территории Российской империи имелось три университета: Академический университет, а также Дерптский и Виленский университеты (''Боголюбов А. Н.'' Точные науки как предмет преподавания в университетах // Физика на рубеже XVII-XVIII вв.. — М.: Наука, 1974. — С. 75—119.). Отмечая этот факт, А. Н. Боголюбов пишет, однако, что «Академический университет не был в сущности университетом. В какой-то степени модернизируя обстоятельства и связи XVIII в., можно сказать, что он представлял собой аспирантскую группу, лишённую постоянных руководителей и материального содержания и вообще предоставленную ветрам со всех сторон! Московский университет стал университетом с первого же дня своего основания, ибо М. В. Ломоносов, как Пётр I, являвшийся для него образцом, был человеком дела». Характеризуя роль Дерптского и Виленского университетов, он же отмечает, что «первый из них тогда был чисто немецким, а второй — польским, так что едва ли можно отнести эти университеты к системе, готовившей кадры для империи»</ref> và lớn nhất <ref>В конце XIX века в России действовало 9 университетов: Московский (с 1755 г.), Дерптский или Юрьевский (1802), Казанский (1804), Харьковский (1804), Петербургский (1819), Киевский св. Владимира (1833), Новороссийский (в Одессе, 1864), Варшавский (1869), Томский (1888). Общее число учащихся в 1900 году — 16497 студентов и 1109 вольнослушателей. Наибольшее число студентов приходилось на Московский университет (4407 или 29 %), Петербургский (3788 или 22,9 %), Киевский (2604 или 15,9 %) и Харьковский (1387 или 8,4 %). (Университетъ // ''Ф.А.Брокгаузъ (Лейпцигъ) и И.А.Ефронъ (С.-Петербургъ)'' Энциклопедический словарь. — С.-Петербургъ: Типографія Акц. Общ. Брокгаузъ-Ефронъ, Прачешный пер., № 6., 1902. — Т. XXXIV. — С. 798—799.)</ref> <ref>Московский университет // Большая советская энциклопедия : [в 30 т.] / гл. ред. А. М. Прохоров. — 3-е изд. — М. : Советская энциклопедия, 1969—1978.</ref> trên lãnh thổ [[:Thể loại:Đất nước Nga|Liên bang Nga]], một trong những trung tâm khoa học và văn hóa của cả đất nước, tọa lạc tại [[Thành phố Moscow|thủ đô Moscow]].
'''Đại học Nghiên cứu Quốc gia Tomsk''' (tiếng Nga: '''''Национальный исследовательский Томский государственный университет''''') <ref>[http://www.tsu.ru/webdesign/tsu/core.nsf/designobjects/files/$file/UTSU2011.pdf: УСТАВ федерального государственного бюджетного образовательного учреждения высшего профессионального образования «Национальный исследовательский Томский государственный университет»]</ref>, một [[:Thể loại:Đại học Nga|trường đại học]] ở Tây Siberia, được thành lập vào năm 1878, là trường đại học đầu tiên ở khu vực châu Á của Nga trên thực tế là trường đại học đầu tiên của Nga ở phía Đông sông Volga. Trường tọa lạc tại [[Thành phố Tomsk|thành phố Tomsk]]. TSU là một trong 29 <ref>[http://www.edu.ru/vuz/niu: Национальные исследовательские университеты России - список вузов, факультеты и специальности]</ref> [[Đại học Nghiên cứu Quốc gia|trường đại học nghiên cứu quốc gia]].  
 
Từ năm 1940, trường được mang tên của Mikhail Vasilyevich Lomonosov. Trường bao gồm '''15 viện nghiên cứu''' <ref>[https://www.msu.ru/info/struct/: Подразделения МГУ]</ref>, '''40 khoa/viện''' <ref>[https://ria.ru/20250125/mgu-1995127250.html: Московский государственный университет имени М.В. Ломоносова]</ref>, '''hơn 300 bộ môn''', '''7 chi nhánh''' (bao gồm 5 chi nhánh nước ngoài) và 1 trường đại học liên kết <ref>[https://msu.ru/info/struct/#branch: Подразделения МГУ. Филиалы.]</ref>.
 
Từ năm 1992, hiệu trưởng Đại học Tổng hợp Moscow là '''Viện sĩ Viktor Antonovich Sadovnichy''', một nhà toán học Liên Xô và Nga, đồng thời là một nhân vật quan trọng trong [[:Thể loại:Giáo dục đại học và sau đại học ở Nga|giáo dục đại học và sau đại học ở Nga]].


== Lịch sử ==
== Lịch sử ==
Dòng 56: Dòng 52:
<div style="overflow: auto;">
<div style="overflow: auto;">
{| class="wikitable" style="width:100%;"
{| class="wikitable" style="width:100%;"
! STT !! Giai đoạn !! Tên chính thức !! Tên tiếng Việt !! Thời_gian
! STT !! Giai đoạn !! Tên chính thức !! Tên tiếng Việt
|-
| 1 || 12/1(23/1)/1755 – 23/2(8/3)/1917 || Императорский Московский университет || Đại học Hoàng gia Moscow || 162 năm
|-
| 2 || Tháng 2-10/1917 || Московский университет || Đại học Moscow || < 1 năm
|-
| 3 || Cuối năm 1917 || Московский государственный университет || Đại học Quốc gia Moscow || < 1 năm
|-
| 4 || Từ năm 1918 || 1-й Московский университет || Đại học Moscow số 1 || 12 năm
|-
|-
| 5 || Từ tháng 9/1930 || Московский государственный университет || Đại học Quốc gia Moscow || 2 năm
| 1 || 1878-1888 || Сибирский Императорский университет || Đại học Hoàng gia Siberia
|-
|-
| 6 || Từ 20/10/1932 || Московский государственный университет им. М. Н. Покровского || Đại học Quốc gia Moscow mang tên M. N. Pokrovski || 5 năm
| 2 || 1888—1919 || Императорский Томский университет || Đại học Hoàng gia Tomsk
|-
|-
| 7 || Từ 11/11/1937 || Московский государственный университет || Đại học Quốc gia Moscow || 2 năm
| 3 || 1919—1934 || Томский государственный университет (ТГУ) || Đại học Quốc gia Tomsk (TSU)
|-
|-
| 8 || Từ 7/5/1940 || Московский государственный университет им. М. В. Ломоносова || Đại học Quốc gia Moscow mang tên M. V. Lomonosov || 15 năm
| 4 || 1934—1967 || Томский государственный университет имени Валериана Владимировича Куйбышева (ТГУ) || Đại học Quốc gia Tomsk mang tên Valerian Vladimirovich Kuibyshev (TSU)
|-
|-
| 9 || Từ 7/5/1955 || Московский ордена Ленина и ордена Трудового Красного Знамени государственный университет им. М. В. Ломоносова || Đại học Quốc gia Moscow mang Huân chương Lenin, Huân chương Cờ đỏ Lao động và mang tên M. V. Lomonosov || 25 năm
| 5 || 1967—1980 || Томский ордена Трудового Красного Знамени государственный университет имени В. В. Куйбышева (ТГУ) || Đại học Quốc gia Tomsk mang tên Kuibyshev (TSU)
|-
|-
| 10 || Từ 22/1/1980 || Московский ордена Ленина, ордена Октябрьской революции и ордена Трудового Красного Знамени государственный университет им. М. В. Ломоносова || Đại học Quốc gia Moscow mang Huân chương Lenin, Huân chương Cách mạng Tháng Mười, Huân chương Cờ đỏ Lao động và mang tên M. V. Lomonosov || 11 năm
| 6 || 1980—1991 || Томский ордена Октябрьской Революции и ордена Трудового Красного Знамени государственный университет имени В. В. Куйбышева (ТГУ) || Đại học Quốc gia Tomsk mang tên Kuibyshev với Huân chương Cách mạng Tháng Mười Huân chương Cờ đỏ Lao động (TSU) <ref>Наш город родной. Исторические и памятные места Томска. (Сост. М. И. Чугунов, В. А. Соловьёва). Новосибирск: Западно-Сибирское книжное издательство, 1982. — 216 с., 24 л. ил; с. 113</ref>
|-
|-
| 11 || Từ năm 1991 || Московский государственный университет им. М. В. Ломоносова || Đại học Quốc gia Moscow mang tên M. V. Lomonosov || 17 năm
| 7 || 1991-2002 || Томский государственный университет || Đại học Quốc gia Tomsk
|-
|-
| 12 || Từ 28/3/2008 || Федеральное государственное образовательное учреждение высшего профессионального образования (ФГОУ ВПО) «Московский государственный университет имени М. В. Ломоносова» || Cơ sở giáo dục đại học chuyên nghiệp quốc gia liên bang "Đại học Quốc gia Moscow mang tên M. V. Lomonosov" || 3 năm
| 8 || 2002—2011 || Государственное образовательное учреждение высшего профессионального образования «Томский государственный университет» (ТГУ) || Đại học Quốc gia Tomsk (TSU)
|-
|-
| 13 || Từ 31/12/2010 || Федеральное государственное бюджетное образовательное учреждение высшего профессионального образования (ФГБОУ ВПО) «Московский государственный университет имени М. В. Ломоносова» || Cơ sở giáo dục đại học chuyên nghiệp công lập quốc gia liên bang "Đại học Quốc gia Moscow mang tên M. V. Lomonosov" || 4 năm
| 9 || 2011—2014 || Федеральное государственное бюджетное образовательное учреждение высшего профессионального образования «Национальный исследовательский Томский государственный университет» (ТГУ или НИ ТГУ) || Đại học Nghiên cứu Quốc gia Tomsk (TSU hoặc NI TSU)
|-
|-
| 14 || Từ 22/10/2014 || Федеральное государственное бюджетное образовательное учреждение высшего образования «Московский государственный университет имени М. В. Ломоносова» || Cơ sở giáo dục đại học công lập quốc gia liên bang "Đại học Quốc gia Moscow mang tên M. V. Lomonosov" || Hiện nay
| 10 || Từ 2014 || Федеральное государственное автономное образовательное учреждение высшего образования «Национальный исследовательский Томский государственный университет» || Đại học Nghiên cứu Quốc gia Tomsk
|}
|}
</div>
</div>
=== Trong Đế quốc Nga ===
=== Trước Cách mạng Tháng Mười ===
Việc thành lập trường đại học được đề xuất bởi Ivan Ivanovich Shuvalov Mikhail Vasilyevich Lomonosov. Việc mở trường đại học ban đầu được lên kế hoạch vào năm 1754, nhưng do công tác chuẩn bị, nên việc mở trường chỉ diễn ra vào năm 1755. Sắc lệnh thành lập trường đại học được Nữ hoàng Elizabeth Petrovna ký vào ngày 24 tháng 1 (4 tháng 2 theo lịch cũ) năm 1755 <ref>[http://www.runivers.ru/bookreader/book9822/#page/284/mode/1up: Указ Императрицы Елизаветы Объ учрежденіи Московскаго Университета и двухъ Гимназій.] года.24 января (4 февраля) 1755 года</ref>. Trước đó, vào ngày 12 tháng 1 (23 tháng 1 theo lịch cũ), ngày lễ Thánh Tatiana, Nữ hoàng Elizabeth Petrovna đã phê duyệt dự án thành lập Đại học Moscow, do đó Ngày Tatiana (theo lịch Gregory trong thế kỷ 20/21 - ngày 25 tháng 1) được tính là ngày thành lập trường cũng Ngày sinh viên Nga sau này. Những lớp học đầu tiên được tổ chức vào 26 tháng 4 <ref>''(Б.а.). Описание инавгурации при начинании гимназии Московского Императорского Университета 1755 года, апреля 26 дня // Санкт-Петербургские ведомости. — 1755. — № 39. Переиздание с комментариями: Белявский М. Т.''[http://dictionnaire.narod.ru/Lomonosov-i-osnovanie-Moskovskogo-universiteta.djvu: Описания открытия Московского университета 26 апреля 1755 г.] // Вестник Московского университета. — 1955. — № 4—5. — С. 243—247</ref>.
Khởi nguyên của '''Đại học Hoàng gia Siberia''' bao gồm 4 khoa: Khoa Lịch sử và Ngữ văn; Khoa Vật lý Toán học; Khoa Luật và Y; được bắt đầu vào ngày 16 (28) tháng Năm, 1878<ref>Энциклопедический словарь Брокгауза и Ефрона : в 86 т. (82 т. и 4 доп.). — СПб., 1890—1907.</ref> theo sắc lệnh của Hội đồng quốc gia Đế quốc Nga <ref>[https://www.tsu.ru/sveden/common/: Основные сведения]</ref>. Bản thiết kế tòa nhà chính được hoàn thành bởi kiến trúc sư Alexander Konstantinovich Bruni ở [[Thành phố Saint Petersburg|Saint Petersburg]] được giám sát thi công một cách linh hoạt thực hiện một cách sáng tạo bởi kiến ​​trúc sư bản địa Pavel Petrovich Naranovich <ref>[https://web.archive.org/web/20141106173929/http://www.ssmu.ru/ofice/general/history/ssmu1888.shtml: Императорский Томский университет]</ref>.


Trường ban đầu nằm ở khu vực hiện nay là Bảo tàng lịch sử Nga trên Quảng trường Đỏ. Năm 1782, để mở rộng cơ sở, trường đã mua từ Công chúa Volkonskaya một khuôn viên có các tòa nhà bằng đá và gỗ tại Giáo xứ Nhà thờ Dionysius trên Phố Nikitskaya <ref>''Любавский М. К.'' [http://elib.shpl.ru/ru/nodes/14439-lyubavskiy-m-k-moskovskiy-universitet-v-1812-godu-m-1913#mode/inspect/page/17/zoom/4: Московский университет в 1812 году] — М., 1913. — С. 8. — 68 с.</ref>. Dưới thời Catherine Đệ Nhị, vào năm 1793, trường đã chuyển đến một tòa nhà được xây dựng đặc biệt ở phía đối diện Mokhovaya, được thiết kế bởi Matvey Kazakov. Sau cuộc xâm lược của Napoléon và vụ hỏa hoạn 1812, toàn nhà đã được Domenico Gilardi phục hồi.
'''Đại học Hoàng gia Siberia''' được khởi công vào ngày 26 tháng 8 (7 tháng 9) năm 1880 và được khánh thành vào ngày 22 tháng 7 (3 tháng 8) năm 1888 , với một khoa là Khoa Y (năm 1930 khoa này được chuyển đổi thành [[Đại học Y khoa Quốc gia Siberia|Viện Y khoa Tomsk]]<ref>[https://web.archive.org/web/20150213213237/http://ssmu.ru/ofice/history.shtml: От медицинского факультета Императорского Томского университета к Сибирскому государственному медицинскому университету]</ref>), với người lãnh đạo là Alexander Stanislavovich Dogel. Trường khai giảng với 8 giáo sư, 7 người trợ giảng, 72 sinh viên và 2 nhân viên, và tiết học đầu tiên mang chủ đề "Cuộc sống là gì?" <ref>История названий томских улиц. — Томск: Издательство Д-Принт, 2012. — 368 с. — ISBN 978-5-902514-51-0.</ref>. Khoa thứ hai của trường là Khoa Luật được mở vào năm 1898 <ref>[http://ui.tsu.ru/?page_id=6020: Открытие Юридического факультета и его деятельность в 1898-1922 гг.] ''Юридический институт ТГУ''</ref>.


Trong thế kỷ 18, trường bao gồm 3 khoa — Khoa Triết, Khoa Y và Khoa Luật. Có một trường dự bị giải thể vào năm 1812. Vào năm 1779, Mikhail Matveevich Kheraskov thành lập trường nội trú cho quý tộc, sau đó đổi thành một trường trung học cho quý tộc vào năm 1830. Nhà xuất bản đại học được Nikolai Ivanovich Novikov thành lập vào những năm 1780, là nơi xuất bản của Moskovskie Vedomosti, tờ báo phổ biến nhất Đế quốc Nga. Các giáo tại Đại học Moscow là công chức trong ngành giảng dạy và bản thân cơ sở giáo dục là một phần của bộ máy nhà nước <ref>''Сердюцкая О. В.'' [https://static.freereferats.ru/_avtoreferats/01004144454.pdf: Московский университет второй половины XVIII в. как государственное учреждение. Преподавательская служба] автореферат дис. … канд. ист. наук. — Брянск, 2008</ref>. Số lượng sinh viên tại trường đại học trong giai đoạn này là khoảng 100 sinh viên mỗi năm <ref>Алексеева Е. В. Диффузия европейских инноваций в России (XVIII — начало XX в.). — М.: РОССПЭН, 2007. — С. 315—316.</ref>.
Đợt tuyển sinh đầu tiên có 72 người, đợt tốt nghiệp đầu tiên (31 bác sĩ, 16 người trong số họ nhận bằng xuất sắc) diễn ra vào tháng 12 năm 1893. Trong số những người tốt nghiệp đầu tiên có các chuyên gia nổi tiếng sau này là Alexey Alexandrovich Kulyabko, Pavel Vasilievich Butyagin, Sergei Mikhailovich Timashev. Tổng cộng, trong giai đoạn trước cách mạng (1888-1917), trường đã đào tạo 1.584 bác sĩ và 240 luật sư <ref>Наш город родной. Исторические и памятные места Томска. (Сост. М. И. Чугунов, В. А. Соловьёва). Новосибирск: Западно-Сибирское книжное издательство, 1982. — 216 с., 24 л. ил; с. 115</ref>.
 
Sự phát triển của khoa học và giảng dạy đại học vào đầu thế kỷ 20 gặp phải những khó khăn liên quan đến sự hoạt động của phong trào sinh viên và sự chính trị hóa đời sống đại học. Trong những năm 1900-1907, Đại học Moscow đã buộc phải thông báo đóng cửa nhiều lần do các cuộc biểu tình và tụ tập của sinh viên. Cùng lúc đó, các biện pháp của Bộ Giáo dục Công nhằm hạn chế phong trào sinh viên, nhằm hạn chế quyền tự chủ của trường đại học, đã gây ra phản ứng tiêu cực từ những giáo sư có tư tưởng tự do. Vào năm 1911, để phản đối việc quân đội đóng trại trong khuôn viên của nhà trường và ngược đãi một số giáo sư, 130 nhà khoa học và giáo sư đã đồng loạt từ chức, bao gồm cả những nhân vật lỗi lạc như Pyotr Nikolaevich Lebedev, Nikolay Dmitriyevich Zelinsky và Sergey Alexeyevich Chaplygin. Hàng ngàn học sinh cũng bị đuổi học vào năm 1911.


=== Trong Liên bang Xô Viết ===
=== Trong Liên bang Xô Viết ===
Những chuyển đổi mang tính cách mạng năm 1917-1921 trong lĩnh vực giáo dục công của Nga, bắt đầu vào những năm đầu của quyền lực Liên Xô, đã ảnh hưởng trực tiếp đến Đại học Moscow dẫn đến sự thay đổi hoàn toàn về cơ cấu, đội ngũ giảng viên sinh viên của trường <ref>Императорский Московский университет: 1755-1917 : энциклопедический словарь / Андреев А. Ю., Цыганков Д. А.. — М.: Российская политическая энциклопедия (РОССПЭН), 2010. — 894 с. — 2000 экз. — ISBN 978-5-8243-1429-8</ref>.
Trong Nội chiến, nhiều giáo sư từ các trường đại học ở [[Thành phố Perm|Perm]] và [[Thành phố Kazan|Kazan]] đã được sơ tán đến Tomsk và làm việc tại Đại học Quốc gia Tomsk <ref>[http://history.tsu.ru/node/6243: ИСТОРИЯ ФИПН]</ref>. Năm 1920, Khoa Luật được tổ chức lại thành Khoa Xã hội học, sau đó Khoa Lịch sử và Ngữ văn mở vào năm 1921. Năm 1922, Khoa Khoa học Xã hội bị đóng cửa trường không đào tạo các ngành về xã hội nhân văn cho đến năm 1940 <ref>[http://if.tsu.ru/if_history.htm: Краткий очерк истории исторического факультета ТГУ]</ref>.


Năm 1918, quá trình tái cơ cấu của Đại học Moscow bắt đầu. Các giáo sư và giáo viên có 10 năm kinh nghiệm trong cấp bậc giáo sư hoặc giáo viên tính đến ngày 1 tháng 10 năm 1918 sẽ bị loại khỏi cơ sở giáo dục và chỉ có thể được bầu lại vào khoa mà họ đã rời đi thông qua một cuộc thi toàn Nga. Năm 1922, một số đại diện nổi bật của khoa học đại học đã bị trục xuất khỏi Nga . Kết quả của những quá trình này, đội ngũ giảng viên trở nên trẻ hơn nhiều và tăng lên đáng kể: do đó, tại Khoa Vật lý và Toán học, thay vì 28 giáo sư trước đây, giờ đã có 107 giáo sư, bao gồm cả nữ giáo sư đầu tiên của trường là Maria Vasilievna Pavlova <ref>31.5.1918 во всех учебных заведениях России было введено совместное обучение учащихся обоего пола.</ref>.
Vào tháng 7 năm 1931, Khoa Sư phạm của Đại học Quốc gia Tomsk được chuyển đổi thành [[Đại học Sư phạm Quốc gia Tomsk|Học viện Sư phạm Quốc gia Tomsk]] <ref>Войтеховская М. П., Галкина Т.В. Томский педагогический: от института к университету. Томск, 2002. — 268 с. — с. 17</ref>.


Tiến trình “Dân chủ hóa” và “Vô sản hóa” giáo dục đại học được áp dụng (một sắc lệnh được ban hành về việc tuyển sinh đại học mà không cần thi đối với tất cả những người trẻ tuổi trên 16 tuổi, bất kể trình độ học vấn của họ <ref>Костицын В. А. «Моё утраченное счастье…»: Воспоминания, дневники. М.: Новое литературное обозрение, 2017</ref>) đã dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng sinh viên theo đó, trình độ trung bình của sinh viên giảm xuống. Nếu vào mùa hè năm 1918 có 8.682 sinh viên theo học tại Đại học Moscow thì đến năm 1922, con số đó đã tăng lên 21.279 <ref>Императорский Московский университет: 1755-1917 : энциклопедический словарь / Андреев А. Ю., Цыганков Д. А.. — М.: Российская политическая энциклопедия (РОССПЭН), 2010. — 894 с. — 2000 экз. — ISBN 978-5-8243-1429-8.</ref>.
Trong thời kỳ Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, các hoạt động của Đại học Quốc gia Tomsk đã được cải cách đáng kể. Trong những năm 1944-1955, TSU là một trong những trung tâm nghiên cứu hàng đầu của đất nước về phát triển các hệ thống phòng thủ mới và là đơn vị đi đầu trong việc chứng minh khoa học cho các dự án kinh tế nông nghiệp toàn cầu của đất nước.


Trong giai đoạn từ năm 1928 đến năm 1930, hệ thống giáo dục đại học đã được tổ chức lại tích cực có nỗ lực phân tách Đại học Tổng hợp Moscow. Trong thời gian này, toàn bộ cơ cấu của MGU đã bị phá dỡ với mục tiêu giải thể hoàn toàn trường đại học. Năm 1930, Khoa Y được tách khỏi trường chuyển đổi thành một trường đại học độc lập, lấy tên là [[Đại học Y khoa Quốc gia Moscow Đầu tiên mang tên Sechenov|Viện Y khoa Moscow Đầu tiên]].
Ngày 7 tháng 1 năm 1967, Đại học Quốc gia Tomsk được trao tặng Huân chương Cờ đỏ Lao động theo Sắc lệnh của Đoàn chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô vì những đóng góp của trường trong việc phát triển khoa học đào tạo chuyên gia, và ngày 8 tháng 9 năm 1980, Huân chương Cách mạng Tháng Mười vì những đóng góp to lớn của trường trong việc đào tạo chuyên gia có trình độ cao cho nền kinh tế quốc dân, phát triển khoa học và hướng đến đến kỷ niệm 100 năm thành lập trường.


Vào tháng 5 năm 1940, trường đại học long trọng kỷ niệm 185 năm thành lập 175 năm ngày mất của Lomonosov, người mà trường đại học bắt đầu mang tên vào năm đó <ref>Ректоры Московского университета (1755-2017) / А. С. Орлов, В. Т. Трофимов, О. В. Раевская. — М.: Издательство Московского университета, 2017. — 123 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011187-3.</ref>. Nhân kỷ niệm 185 năm thành lập, theo sắc lệnh của Xô viết Tối cao Liên Xô, Đại học Tổng hợp Quốc gia Moscow đã được trao tặng Huân chương Lenin (07.05.1940) <ref>Уставы Московского университета, 2005, с. 403.</ref>.
=== Trong Liên bang Nga ===
[[Tập tin:Đại học Quốc gia Tomsk.jpg|nhỏ|500x500px]]
Năm 1995, Khoa Văn hóa Khoa Ngoại ngữ là 2 khoa đầu tiên của trường được lập trong giai đoạn hậu Liên Xô <ref>[https://iik.tsu.ru/ru/content/%D0%BE%D0%B1-%D0%B8%D0%BD%D1%81%D1%82%D0%B8%D1%82%D1%83%D1%82%D0%B5: Об институте]</ref> <ref>[https://flf.tsu.ru/node/7: ИСТОРИЯ ФАКУЛЬТЕТА]</ref>.


Khoảng hai nghìn sinh viên đã ra tiền tuyến vào những ngày đầu của Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại. Ba ngàn sinh viên đã được huy động để xây dựng các tuyến phòng thủ <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 27.</ref>. Vài ngàn sinh viên đã được huy động vào đầu cuộc chiến để làm việc trong các nhà máy quốc phòng, thu hoạch mùa màng ở các nông trại tập thể và nhà nước, và xây dựng tàu điện ngầm Moscow <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 29-30.</ref>. Hàng trăm sinh viên và nhân viên của Đại học Tổng hợp Moscow đã tham gia vào các đội hình dân quân đảm bảo xây dựng các công trình phòng thủ ở những nơi tiếp cận xa tới Moscow <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 30.</ref>. Sư đoàn súng trường số 8 (Krasnopresnenskaya) của Dân quân Nhân dân được biên chế các tình nguyện viên từ Đại học Tổng hợp Moscow <ref>''Ильченко Е. В.'' [http://letopis.msu.ru/content/es-8-diviziya: 8-я Краснопресненская дивизия народного ополчения.] Летопись Московского университета</ref>.
Theo Sắc lệnh số 30 ngày 15 tháng 1 năm 1998 của Tổng thống Liên bang Nga, Đại học Quốc gia Tomsk được đưa vào Danh mục quốc gia về Di sản văn hóa đặc biệt có giá trị của Nhân dân Liên bang Nga <ref>[http://www.kremlin.ru/acts/bank/11880: Указ Президента Российской Федерации от 15.01.1998 г. № 30]</ref>.


Vào cuối năm 1941, một cuộc di tản một phần của Đại học Tổng hợp Moscow (các quỹ, giáo sư, nhân viên và sinh viên) đã được thực hiện đến Ashgabat <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 36.</ref>. Trong những năm đầu của chiến tranh, trường đại học được chia thành hai phần. Phần lớn trường đại học đã được sơ tán. Một phần nhỏ hơn vẫn ở lại Moscow, tiếp tục việc học của họ và đảm bảo an ninh và bảo vệ cho các tòa nhà và quỹ của trường đại học <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 37.</ref>. Các lớp học tại Đại học Moscow được tiếp tục vào tháng 2 năm 1942 <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 38.</ref>. Vào tháng 7-tháng 8 năm 1942, Đại học Tổng hợp Moscow chuyển từ Ashgabat đến Sverdlovsk <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 45.</ref>. Vào tháng 5 năm 1943, trường đại học đã được sơ tán từ Sverdlovsk đến Moscow. Tổng quản lý việc di chuyển trường đại học từ Ashgabat đến Sverdlovsk và cuộc sơ tán từ Sverdlovsk đến Moscow được thực hiện bởi Rozaliya Samoylovna Zemlyachka <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 45, 51.</ref>.
Theo Sắc lệnh của Chính phủ Liên bang Nga ngày 9 tháng 3 năm 2006 số 306-r, Đại học Quốc gia Tomsk được tái cấu trúc thông qua sáp nhập nhiều cơ sở giáo dục khác tại địa phương.


Vào tháng 9 năm 1943, sinh viên năm nhất, chủ yếu là nữ, đã đến giảng đường của trường đại học. Trong số 1.325 sinh viên mới trúng tuyển, chỉ có hơn một trăm sinh viên là nam thanh niên. Chất lượng đội ngũ giảng viên đã được cải thiện. Đến cuối năm 1943, Đại học Tổng hợp Moscow có gần một nghìn giáo sư và giảng viên, bao gồm 85 viện sĩ và viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm Khoa học, 44 người đoạt Giải thưởng Nhà nước và 18 nhà khoa học danh dự <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 52.</ref>.
Vào ngày 16 tháng 2 năm 2007, Cyberia SKIF<ref>[https://web.archive.org/web/20070217170044/http://tv2.tomsk.ru/: Телекомпания ТВ2]</ref> đã được lắp đặt tại Đại học Quốc gia Tomsk, là siêu máy tính mạnh nhất vào thời điểm đó ở các nước SNG Đông Âu (nếu không tính phần lãnh thổ Nga ở phía Tây dãy Ural) <ref>[https://obzor.city/news/162665: Суперкомпьютеры в вузах РФ должны быть отечественными - Грызлов]</ref>.


Năm 1944, hoạt động khoa học tại trường đại học trở nên sôi động hơn. Tổng cộng có 138 luận án được chuẩn bị trong năm nay <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 58.</ref>. Đến mùa thu năm 1944, tòa nhà khán phòng đã được khôi phục hoàn toàn <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 60.</ref>. Để cộng đồng khoa học làm quen với những thành tựu của các nhà khoa học của trường đại học, các buổi đọc Lomonosov đã được tổ chức vào tháng 4 năm 1944, sau này trở thành một truyền thống quan trọng tại Đại học Tổng hợp Moscow <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 61.</ref>. Thư viện trường đại học đã nhận được khoản tài trợ lớn để bổ sung thêm nguồn tài liệu. Bắt đầu xuất bản thường xuyên các ghi chú bài báo khoa học. Hai giải thưởng Lomonosov hàng năm được thành lập cho các tác phẩm khoa học xuất sắc nhất (1944) <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 64.</ref>. Trong năm học 1944/45, 22 khoa mới đã được thành lập tại Đại học Tổng hợp Moscow <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 65.</ref>.  
Là một phần của quá trình chuyển đổi giáo dục đại học ở Nga và việc giới thiệu hệ thống các trường đại học hàng đầu, Đại học Quốc gia Tomsk vào ngày 27 tháng 4 năm 2010 đã nhận được quy chế trở thành [[Đại học Nghiên cứu Quốc gia|Đại học Nghiên cứu Quốc gia]] (NRU)<ref>[https://obzor.city/news/322052: ТГУ получил статус "Национального исследовательского университета]</ref> và cơ hội làm việc với các nhà khoa học xuất sắc từ khắp nơi trên thế giới.


Trong giai đoạn 1944-1947, hầu hết các cựu sinh viên tiền tuyến đều trở về Đại học Tổng hợp Moscow và tốt nghiệp <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 66.</ref>. Trong năm cuối cùng của cuộc chiến, 4.805 sinh viên toàn thời gian và 358 sinh viên sau đại học đã học tại trường đại học, và 1.400 sinh viên và 50 sinh viên sau đại học đã học qua thư từ <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 67.</ref>. Năm 1945, tất cả các khoa của Đại học Tổng hợp Moscow đều được chuyển sang hình thức học kéo dài năm năm. Trong bốn năm chiến tranh, Đại học Moscow đã đào tạo hơn ba nghìn chuyên gia. Gần một phần ba trong số đó được gửi đến các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng chăm sóc sức khỏe <ref>Московский университет в Великой Отечественной войне. — 4-е, переработанное и дополненное. — М.: Издательство Московского университета, 2020. — 632 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011499-7, с. 70.</ref>.
Từ năm 2013, Đại học Quốc gia Tomsk đã tham gia Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường đại học hàng đầu của Nga giữa các trung tâm khoa học và giáo dục hàng đầu thế giới <ref>[https://www.kommersant.ru/doc/2229717: Три сибирских университета получат субсидии на продвижение в рейтингах]</ref>.


Sau chiến tranh, nhiều khoa mới đã được mở, trong đó có cả Viện Vật lý hạt nhân, Khoa Vật lý Công nghệ (được chuyển đổi thành [[Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow|Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow]] vào năm 1951), Khoa Quan hệ Quốc tế (vào năm 1944 được chuyển đổi thành Viện Quan hệ Quốc tế, nay là [[MGIMO|MGIMO]], trường đại học thuộc Bộ Ngoại giao Nga).
Tính đến tháng 5 năm 2019, TSU bao gồm 15 khoa và năm viện <ref>[http://www.tsu.ru/education/faculties/: Факультеты и институты]</ref> với 23 nghìn sinh viên, 800 nghiên cứu sinh sau đại học và tiến sĩ , trong đó hơn 2200 sinh viên quốc tế đến từ 39 quốc gia <ref>[https://www.topuniversities.com/universities/tomsk-state-university: Tomsk State University]</ref>.  


Vào ngày 6 tháng 5 năm 1955, Đại học Tổng hợp Moscow đã được trao tặng Huân chương Lao động Cờ đỏ “nhân kỷ niệm 200 năm thành lập trường ghi nhận vai trò của trường trong việc phát triển khoa học, văn hóa đào tạo nguồn nhân lực có trình độ”. Ngày 22 tháng 1 năm 1980, Đại học Tổng hợp Moscow được trao tặng Huân chương Cách mạng Tháng Mười.
Hơn 100 Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Viện Hàn lâm Khoa học Y khoa Nga các Viện hàn lâm khoa học của các quốc gia khác, hơn 250 người đoạt Giải thưởng quốc gia và 3 người đoạt Giải Nobel đã học làm việc tại TSU <ref>[http://www.almamater.tsu.ru/show_story.phtml?nom=2308&s=209: Нобелевские лауреаты в ТГУ.] ''Alma Mater''</ref>.  


=== Trong Liên bang Nga ===
Về cơ sở vật chất, niềm tự hào của trường đại học là Thư viện Khoa học với hơn 3,7 triệu bản <ref>[https://www.lib.tsu.ru/ru/o-biblioteke/kollekcii: Коллекции Научной библиотеки Томского государственного университета]</ref>, các bảo tàng sách quý và Vườn Bách thảo Siberia.
Năm 1993, một điều lệ mới của Đại học Moscow đã được thông qua <ref>Уставы Московского университета 1755―2005 / авт.-составитель Гена Евгений Иванович. — М.: Империум Пресс, 2005. — 480 с. — 1000 экз. — ISBN 5-98179-031-8, с. 424―442.</ref>. Năm 1998, một phiên bản mới của điều lệ của Đại học Moscow đã được thông qua <ref>Уставы Московского университета 1755―2005 / авт.-составитель Гена Евгений Иванович. — М.: Империум Пресс, 2005. — 480 с. — 1000 экз. — ISBN 5-98179-031-8, с. 442―462.</ref>.  


Trong giai đoạn 1992-2017, hơn ba mươi khoa và viện mới đã được thành lập tại Đại học Tổng hợp Moscow. Các chi nhánh được mở tại '''[[Thành phố Sevastopol|Sevastopol]]''' (1999), '''Astana''' (2001), '''Tashkent''' (2006), '''Baku''' (2008), '''Dushanbe''' (2009), '''Yerevan''' và '''Koper''' (2015). Khuôn viên trường đại học đã được mở rộng gấp đôi. Siêu máy tính Lomonosov, siêu máy tính mạnh nhất cả nước đã được vận hành. Số lượng sinh viên tại Đại học Quốc gia Moscow đã tăng lên 60 nghìn người. Quy chế đặc biệt của Đại học Moscow được ghi nhận trong luật: MGU hoạt động theo các tiêu chuẩn giáo dục được thiết lập độc lập và cấp bằng giáo dục đại học riêng; đã được cấp quyền độc lập trao bằng cấp học thuật cho tiến sĩ và tiến sĩ khoa học <ref>Ректоры Московского университета (1755-2017) / А. С. Орлов, В. Т. Трофимов, О. В. Раевская. — М.: Издательство Московского университета, 2017. — 123 с. — 1000 экз. — ISBN 978-5-19-011187-3, с. 107.</ref>.
== Uy tín và Xếp hạng ==
Năm 2014, «Эксперт РА» đã xếp hạng Đại học Quốc gia Tomsk ở mức “B”, nghĩa là trình độ đào tạo của sinh viên tốt nghiệp ở mức rất cao. Trường đại học duy nhất ở SNG được xếp loại “A” (đặc biệt cao) trong bảng xếp hạng này là [[Đại học Quốc gia Moscow|Đại học Quốc gia Moscow]].


Theo Nghị định số 332 của Chính phủ Liên bang Nga ngày 28 tháng 3 năm 2019, Trung tâm Khoa học và Công nghệ Đổi mới của Đại học Tổng hợp Moscow "Vorobyovy Gory" đã được thành lập. Tại "Thung lũng MGU" (khu vực dành riêng cho nhu cầu của MGU vào những năm 1950 tại khu vực Ramenki), người ta đã lên kế hoạch xây dựng chín cụm nghiên cứu cơ bản và ứng dụng và để tiếp nhận các công ty tham gia vào các hoạt động khoa học, công nghệ và triển khai. Vào cuối tháng 1 năm 2021, việc xây dựng cụm đầu tiên, Lomonosov, đã bắt đầu và vào giữa tháng 7 năm 2021, hai cụm nữa, Giáo dục và Liên ngành, cũng đã bắt đầu. Ngày 25 tháng 1 năm 2023, lễ khánh thành cụm Lomonosov đã diễn ra và tháng 7 năm 2023, cụm Giáo dục đã khánh thành <ref>[https://stroi.mos.ru/nauchnaia-dolina-dlia-mgu: Научная долина МГУ]</ref> <ref>[https://lenta.ru/articles/2021/07/22/mgu/: Университет по атомным технологиям. О строительстве новых кластеров МГУ]</ref> <ref>[https://fomag.ru/news-streem/dokhody-kompaniy-doliny-mgu-v-2024-g-prognoziruyutsya-na-urovne-30-mlrd-rub-sadovnichiy/: Доходы компаний долины МГУ в 2024 г. прогнозируются на уровне 30 млрд руб. - Садовничий]</ref>.
Năm 2020, Quacquarelli Symonds đã công bố QS World University Ranking 2021, một trong những bảng xếp hạng có uy tín nhất trong cộng đồng học thuật. Đại học Quốc gia Tomsk lọt vào TOP-300 trường đại học tốt nhất thế giới, đứng ở vị trí thứ 250 <ref>[https://www.topuniversities.com/university-rankings/world-university-rankings/2021: QS World University Rankings 2021]</ref> và trở thành trường đại học thứ tư của [[:Thể loại:Đất nước Nga|Liên bang Nga]] góp mặt trong bảng xếp hạng này.  


Ngày 28 tháng 12 năm 2024, đội ngũ cán bộ của Đại học Tổng hợp Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov đã được trao tặng Huân chương Lao động Vẻ vang vì những đóng góp to lớn trong đào tạo các chuyên gia trình độ cao và phát triển khoa học và giáo dục trong nước <ref>[https://www.ng.ru/education/2024-04-16/100_162209042024.html: Крупнейшие вузы России: анализируем востребованность российских университетов / Образование / Независимая газета]</ref>.
Cũng trong năm 2020, theo ấn phẩm Times Higher Education (THE) , Đại học Quốc gia Tomsk xếp trong nhóm 501–600 <ref>[https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/2020/world-ranking: World University Rankings]</ref> trường đại học hàng đầu thế giới, và đạt vị trí thứ 103 trong danh sách các trường đại học tính quốc tế hóa cao nhất thế giới, trở thành trường đại học đầu tiên của Nga được xếp trong bảng xếp hạng này <ref>[https://www.timeshighereducation.com/student/best-universities/most-international-universities-world: Most international universities in the world]</ref>.


== Uy tín và Xếp hạng ==
Năm 2022, Đại học Quốc gia Tomsk lọt vào Bảng xếp hạng quốc tế “ Ba sứ mệnh của trường đại học ”, đạt vị trí thứ 196<ref>[https://mosiur.org/ranking/: Рейтинг Три Миссии Университетов, 2022]</ref> . Cùng năm, trường đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng RAEX về "100 trường đại học tốt nhất tại Nga"<ref>[https://raex-rr.com/pro/education/russian_universities/top-100_universities/2022/: Рейтинг лучших вузов России RAEX-100, 2022 год]</ref> và đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng về tầm ảnh hưởng của các trường đại học tại Nga<ref>[https://raex-rr.com/education/universities/ranking_of_influential_universities: Названы самые влиятельные вузы России]</ref> . Trong bảng xếp hạng chuyên ngành RAEX, trường được đưa vào danh sách các trường đại học tốt nhất trong 17 lĩnh vực nghiên cứu <ref>[https://raex-rr.com/database/contender/10006455: Томский государственный университет]</ref>.
{| class="wikitable" style="text-align:center;"
! style="text-align: left;" | Xếp hạng thế giới !! 2015 !! 2020 !! 2025
|-
| style="text-align: left;" | '''''ShanghaiRanking’s ARWU''''' || 86 || 93 ||
|-
| style="text-align: left;" | '''''QS World University Rankings''''' || 114 || 84 ||
|-
| style="text-align: left;" | '''''«Три миссии университета»''''' || – || 21 ||
|-
! style="text-align: left;" | Xếp hạng khu vực !! 2015 !! 2020 !! 2025
|-
| style="text-align: left;" | '''''QS University Rankings: BRICS''''' || 3 || 6 ||
|-
| style="text-align: left;" | '''''QS Emerging Europe & Central Asia''''' || – || 1 ||
|-
! style="text-align: left;" | Xếp hạng trong nước !! 2015 !! 2020 !! 2025
|-
| style="text-align: left;" | '''''Interfax (Интерфакс)''''' || 1 || 1 ||
|-
| style="text-align: left;" | '''''RAEX''''' || – || 1 ||
|}
Năm 2018, Đại học Quốc gia Moscow xếp thứ 199 trong Times Higher Education World University Rankings và thứ 33 trong bảng xếp hạng danh tiếng <ref>[https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/2018/reputation-ranking#!/page/0/length/25/locations/RU/sort_by/rank/sort_order/asc/cols/stats: World Reputation Rankings] ''Times Higher Education (THE)'' 30 мая 2018.</ref> <ref>[https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/2019/world-ranking#!/page/0/length/25/locations/RU/sort_by/rank/sort_order/asc/cols/stats: World University Rankings] ''Times Higher Education (THE)'' 26 сентября 2018.</ref>
 
Năm 2019, Đại học Quốc gia Moscow đã lọt vào TOP-50 QS World University Rankings by Subject ở năm chuyên ngành cùng một lúc: Ngôn ngữ học (vị trí thứ 21), Vật lý Thiên văn học (vị trí thứ 26), Ngôn ngữ đương đại (vị trí thứ 33), Toán học (vị trí thứ 34) và Khoa học máy tính (vị trí thứ 48) <ref>[https://www.topuniversities.com/university-rankings-articles/university-subject-rankings/out-now-qs-world-university-rankings-subject-2019: Out Now: QS World University Rankings by Subject 2019] Top Universities (26 февраля 2019)</ref>.
 
Năm 2022, Đại học Tổng hợp Moscow đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng các trường đại học tốt nhất của Nga về nhu cầu của sinh viên theo HeadHunter <ref>''Билык, Кирилл.'' [https://rb.ru/news/top-russian-university/: HeadHunter составил рейтинг лучших российских вузов 2022 года]</ref>.


== Hoạt động giáo dục ==
== Hoạt động giáo dục ==
Theo '''Luật Liên bang Số 259-ФЗ ngày 10/11/2009''', Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov được trao quyền thực hiện các chương trình giáo dục đại học được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn giáo dục do trường tự thiết lập. Ngoài ra, theo luật này, Đại học Quốc gia Moscow được quyền cấp cho những người đã hoàn thành chương trình đào tạo tại các chương trình giáo dục do trường đại học thực hiện các văn bằng giáo dục có ký hiệu chính thức của Liên bang Nga, được chứng nhận bằng con dấu của Đại học Quốc gia Moscow, mẫu văn bằng này do chính trường chấp thuận. Các văn bản giáo dục do Đại học Quốc gia Moscow cấp theo luật định cung cấp cho người sở hữu các văn bản này những quyền tương tự như những quyền được cung cấp cho người sở hữu các văn bản giáo dục do các trường đại học công lập của Liên bang Nga cấp <ref>[http://www.kremlin.ru/acts/bank/30100: Федеральный закон от 10.11.2009 г. № 259-ФЗ.] Сайт Президента России (10 ноября 2009)</ref>.
=== Ấn bản khoa học ===
 
<div style="column-count: 2; -moz-column-count: 2; -webkit-column-count: 2;">
Từ năm 2011, Đại học Quốc gia Moscow đã triển khai chương trình đào tạo tích hợp kéo dài 6 năm. Các hình thức đào tạo chính tại Đại học Quốc gia Moscow là [[:Thể loại:Chương trình Chuyên gia|chuyên gia]], [[:Thể loại:Chương trình Thạc sĩ|thạc sĩ]] và [[:Thể loại:Chương trình Cử nhân|cử nhân]]. Chương trình của MGU khác với các chương trình của các cơ sở giáo dục đại học khác của Nga, từ năm 2011 đã chuyển sang đào tạo theo các nguyên tắc của Công ước Bologna, trong đó bao gồm việc chia thành các chương trình cấp bằng cử nhân và thạc sĩ. Các trường đại học Nga đào tạo bằng cử nhân trong bốn năm và bằng thạc sĩ trong hai năm. Các chuyên gia đã đánh giá những quyết định này của Đại học Quốc gia Moscow một cách mơ hồ <ref>[https://www.bbc.co.uk/russian/russia/2010/09/100929_moscow_university_six_years.shtml: В МГУ будут обучать студентов в течение шести лет]</ref>.
* Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Tomsk <ref>[http://vestnik.tsu.ru/: Вестник Томского государственного университета]</ref>
 
* Tạp chí khoa học TSU. Triết học. Xã hội học. Chính trị học <ref>[https://web.archive.org/web/20111013221406/http://vestnik.tsu.ru/philosophy/: Вестник Томского государственного университета. Философия. Социология. Политология]</ref>
Là một phần của chương trình phát triển mới của Đại học Quốc gia Moscow (2020-2030), người ta có kế hoạch thành lập 7 trường khoa học và giáo dục để tập hợp các nhóm nhà khoa học từ các khoa khác nhau <ref>[https://tass.ru/obschestvo/9650189: В МГУ появятся семь научных школ.] ТАСС (7 октября 2020)</ref>:
* Tạp chí khoa học TSU. Sinh học <ref>[https://web.archive.org/web/20111013220130/http://vestnik.tsu.ru/biology/: Вестник Томского государственного университета. Биология]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Lịch sử <ref>[https://web.archive.org/web/20111013221011/http://vestnik.tsu.ru/history/: Вестник Томского государственного университета. История]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Toán học. học <ref>[https://web.archive.org/web/20111013220754/http://vestnik.tsu.ru/mathematics/: Вестник Томского государственного университета. Математика и механика]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Điều khiển. Khoa học và kỹ thuật máy tính <ref>[https://web.archive.org/web/20111013215915/http://vestnik.tsu.ru/informatics/: Вестник Томского государственного университета. Управление. Вычислительная техника и информатика]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Ngữ văn <ref>[https://web.archive.org/web/20120330010209/http://vestnik.tsu.ru/philology/: Вестник Томского государственного университета. Филология]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Kinh tế <ref>[https://web.archive.org/web/20111216123344/http://www.vestnik.tsu.ru/economy/: Вестник Томского государственного университета. Экономика]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Văn hóa lịch sử nghệ thuật <ref>[https://web.archive.org/web/20111109060824/http://vestnik.tsu.ru/culture/: Вестник Томского государственного университета. Культурология и искусствоведение]</ref>
* Tạp chí Toán rời rạc ứng dụng <ref>[https://web.archive.org/web/20111013221628/http://vestnik.tsu.ru/pdm/: Прикладная дискретная математика]</ref>
* Tạp chí Ngôn ngữ và Văn hóa (do Khoa Ngoại ngữ xuất bản hàng quý).
</div>


* Không gian;
=== Hợp tác quốc tế ===
* Bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử thế giới;
Đại học Quốc gia Tomsk là thành viên của UArctic<ref>[https://www.uarctic.org/members/member-profiles/: Members.] UArctic</ref> , mạng lưới hợp tác quốc tế bao gồm các trường đại học có cơ sở đào tạo trong vành đai Bắc Cực, bao gồm hơn 200 trường đại học và các tổ chức khác có mối quan tâm trong việc thúc đẩy giáo dục nghiên cứu tại khu vực Bắc Cực <ref>[https://www.uarctic.org/about-us/: About Us.] UArctic</ref>. Sự hợp tác đã bị tạm dừng sau Chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga <ref>[https://www.uarctic.org/about-us/shared-voices-magazine/shared-voices-2022/: Shared Voices 2022.] UArctic</ref>.
* Hệ thống thần kinh, hệ thống nhận thức, trí tuệ nhân tạo;
* Phương pháp toán học phân tích các hệ thống phức tạp;
* Công nghệ phân tử của hệ thống sống và sinh học tổng hợp;
* Công nghệ quang tử và lượng tử. Y học kỹ thuật số;
* Tương lai của hành tinh: Giám sát môi trường toàn cầu.
 
Các trường khoa học bắt đầu đào tạo cán bộ và tiến hành nghiên cứu khoa học từ năm 2021.
 
=== Các khóa học liên khoa ===
 
Khóa đào tạo liên khoa của Đại học Quốc gia Moscow ('''''Межфакультетский учебный курс МГУ - МФК МГУ''''') — khóa học kéo dài một học kỳ do các giáo viên của Đại học Moscow là chuyên gia trong lĩnh vực của họ giảng dạy. Mục đích của các khóa học là mô tả mối quan hệ giữa các lĩnh vực kiến ​​thức khác nhau: khoa học, nghệ thuật, chính trị, văn hóa, quá trình xã hội và công cộng. Các nhà khoa học hàng đầu trong và ngoài nước không phải là cán bộ của trường đại học được mời đến giảng bài. Việc thành thạo МФК là một phần không thể thiếu trong quá trình đào tạo sinh viên MGU việc hoàn thành nó là bắt buộc <ref>Для студентов очной формы обучения третьих и четвёртых курсов, обучающихся по программам специалитета, третьего курса бакалавриата и первого курса магистратуры.</ref>. Thông tin về các МФК mà sinh viên đã hoàn thành được đưa vào phần bổ sung bằng tốt nghiệp <ref>[http://mfk.msu.ru/: Межфакультетские учебные курсы Московского государственного университета имени М. В. Ломоносова]</ref>.


== Cấu trúc ==
== Cấu trúc ==


=== Khoa ===
=== Khoa ===
Dưới đây là danh sách các khoa của Đại học Quốc gia Moscow hiện đang hoạt động, và lịch sử hình thành của các khoa đó
{| class="wikitable" style="width:100%; text-align:left;"
{| class="wikitable" style="width:100%; text-align:left;"
! Giai đoạn !! Tên khoa (tiếng Nga) !! Tên khoa (dịch tiếng Việt) !! Năm thành lập
! Tên Khoa/Viện
! Năm thành lập
! Các tên gọi trước đó (và năm thành lập)
|-
|-
| rowspan="3" | 1755-1929 || Философский факультет || Khoa Triết học || 1755
| Viện Sinh học (БИ)
| 2007
| Khoa Sinh học (1935)
|-
|-
| Юридический факультет || Khoa Luật || 1755
| Khoa Địa chất – Địa lý (ГГФ)
| 1952
| Khoa Địa lý – Thổ nhưỡng – Địa chất (1933)<br>Khoa Địa lý (1393)
|-
|-
|  Медицинский факультет || Khoa Y || 1755
| Khoa Hóa học (ХФ)
| 1932
|  
|-
|-
| rowspan="9" | 1929–1941 || Химический факультет || Khoa Hóa học || 1929
| Viện Kinh tế và Quản lý (ИЭМ)
| 2016
| Khoa Kinh tế (1963)
|-
|-
| Биологический факультет || Khoa Sinh học || 1930
| Viện Luật (ЮИ)
| 1994
| Khoa Luật (1898)<br>Khoa Khoa học Xã hội (1920)
|-
|-
|  Механико-математический факультет || Khoa Cơ học và Toán học || 1933
| Khoa Triết học (ФсФ)
| 1987
|  
|-
|-
| Физический факультет || Khoa Vật lý || 1933
| Viện Nghệ thuật và Văn hóa (ИИК)
| 2001
| Khoa Văn hóa học (1995)
|-
|-
|  Исторический факультет || Khoa Lịch sử || 1934
| Khoa Tâm lý học (ФП)
| 1996
|  
|-
|-
| Геологический факультет || Khoa Địa chất || 1938
| Khoa Lịch sử và Khoa học Chính trị (ФИПН)
| 2018
| Khoa Ngữ văn – Lịch sử (1917)<br>Khoa Lịch sử (1940)
|-
|-
| Географический факультет || Khoa Địa lý || 1938
| Khoa Ngữ văn (ФилФ)
| 1974
| Khoa Ngữ văn – Lịch sử (1917)
|-
|-
|  Филологический факультет || Khoa Ngữ văn || 1941
| Khoa Ngoại ngữ (ФИЯ)
| 1995
| Bộ môn Ngoại ngữ (1931)
|-
|-
|  Экономический факультет || Khoa Kinh tế || 1941
| Khoa Báo chí (ФЖ)
| 2004
|  
|-
|-
| rowspan="5" | 1952–1973 || Факультет журналистики || Khoa Báo chí || 1952
| Khoa Cơ học – Toán học (ММФ)
| 1948
| Khoa Vật lý – Toán học (1917)
|-
|-
| Институт стран Азии и Африки (ИСАА) || Viện các nước châu Á và châu Phi (ISAA) || 1956
| Khoa Vật lý (ФФ)
| 1948
| Khoa Vật lý – Toán học (1917)
|-
|-
|  Факультет психологии || Khoa Tâm học || 1966
| Khoa Vật – Kỹ thuật (ФТФ)
| 1933
|  
|-
|-
| Факультет вычислительной математики и кибернетики (ВМК) || Khoa Toán tin và Điều khiển học (VMK) || 1970
| Viện Toán học Ứng dụng và Khoa học Máy tính (ИПМиКН)<br>Khoa Khoa học Máy tính<br>Khoa Toán học Ứng dụng
| 2017
|  
|-
|-
|  Факультет почвоведения || Khoa Thổ nhưỡng học || 1973
| Khoa Vô tuyến điện tử (РФФ)
| 1953
|  
|-
|-
| rowspan="6" | 1988–1995 || Факультет иностранных языков и регионоведения (ФИЯР) || Khoa Ngoại ngữ và Nghiên cứu Khu vực || 1988
| Khoa Giáo dục Thể chất (ФФК)
| 2005
|  
|-
|-
| Социологический факультет || Khoa Xã hội học || 1989
| Viện Giáo dục Quân sự
| 2008
| 1926 — Bộ môn Giáo dục Quân sự
|-
|-
| Факультет наук о материалах (ФНМ) || Khoa Khoa học Vật liệu || 1991
| Khoa Công nghệ Sáng tạo (ФИТ)
| 2009
|  
|-
|-
| Факультет фундаментальной медицины (ФФМ) || Khoa Y học Cơ bản || 1992
| Trung tâm Giáo dục – Nghiên cứu Trường CNTT Cao cấp (HITs)
| 2017
|  
|-
|-
|  Факультет государственного управления (ФГУ) || Khoa Quản lý Nhà nước || 1993
| Khoa Dự bị Đại học
|  
|  
|-
|-
| Факультет военного обучения || Khoa Đào tạo Quân sự || 1995
| Viện Giáo dục
|-
| 2020
| rowspan="9" | Sau 1997 || Факультет педагогического образования (ФПО) || Khoa Sư phạm || 1997
|  
|-
|  Факультет искусств || Khoa Nghệ thuật || 2001
|-
| Факультет биоинженерии и биоинформатики (ФББ) || Khoa Công nghệ Sinh học và Tin sinh học || 2002
|-
|  Факультет мировой политики (ФМП) || Khoa Chính trị Thế giới || 2003
|-
|  Факультет глобальных процессов (ФГП) || Khoa Các quá trình toàn cầu || 2005
|-
|  Факультет политологии || Khoa Khoa học Chính trị || 2008
|-
|  Факультет фундаментальной физико-химической инженерии (ФФФХИ) || Khoa Kỹ thuật Vật lý-Hóa học Cơ bản || 2011
|-
|  Биотехнологический факультет || Khoa Công nghệ Sinh học || 2013
|-
|  Факультет космических исследований МГУ (ФКИ) || Khoa Nghiên cứu Vũ trụ MGU || 2017
|}
|}


=== Trường đại học ===
=== Chi nhánh và đơn vị trực thuộc trường ===
Các trường đại học thành viên có chức năng và quyền hạn ngang với các khoa của Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov.
* Viện Luật Novosibirsk (chi nhánh) của Đại học Quốc gia Tomsk
 
* Viện Vật lý và Công nghệ Siberia
* '''Trường đại học Kinh doanh''', '''''ВШБ МГУ'''''. Đào tạo sinh viên bậc cử nhân, thạc sĩ, MBA MBA điều hành trong lĩnh vực Quản . Thành lập năm 2001.
* Viện nghiên cứu Toán ứng dụng và Cơ học
 
* Viện nghiên cứu Sinh học và Vật Sinh học
* '''Trường đại học Kinh tế Moscow''', '''''МШЭ МГУ'''''. Đào tạo cử nhân ngành Kinh tế, thạc sĩ các chuyên ngành “Lý thuyết kinh tế và các vấn đề của nước Nga hiện đại” và “Chiến lược kinh tế và tài chính”. Thành lập năm 2004.
* Vườn Bách thảo Siberia
* Thư viện khoa học


* '''Trường đại học Quản trị Nhà nước''', '''''ВШГА МГУ'''''. Đào tạo cán bộ chuyên môn cho lĩnh vực hành chính nhà nước. Thành lập năm 2005.
=== Bảo tàng ===
* Bảo tàng Lịch sử TSU (1984, mở cửa trở lại năm 2002)
* Vườn bách thảo Siberia (1880)
* Bảo tàng Khảo cổ học và Dân tộc học Siberia mang tên Florinsky (1882)
* Bảo tàng Động vật học (1885)
* Bảo tàng Thực vật học mang tên Krylov (1885)
* Bảo tàng Cổ sinh vật học mang tên Khakhlov<ref>[http://www.tsu.ru/university/museums/plmuseum.php: Палеонтологический музей имени В. А. Хахлова]</ref> (1888)
* Bảo tàng Khoáng vật học mang tên Bazhenov (1888)
* Phòng Bản thảo và Di tích Sách của Thư viện Quốc gia TSU (1944)
* Bảo tàng Lịch sử Vật lý (1985)
* Bảo tàng Sách của Thư viện Khoa học TSU (2005)


* '''Trường đại học Biên dịch''', '''''ВШП МГУ'''''. Đào tạo chuyên gia biên dịch chuyên nghiệp, thành thạo công nghệ biên dịch hiện đại.
== Giáo sư đạt giải Nobel ==
* '''Ivan Petrovich Pavlov''' - Nobel Sinh lý học và Y khoa năm 1904
* '''Nikolay Nikolayevich Semyonov''' - Nobel Hóa học năm 1956


* '''Trường đại học Kiểm toán Nhà nước''', '''''ВШГА МГУ'''''. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực tài chính công, kiểm soát tài chính ở cấp liên bang, khu vực và địa phương, cũng như kiểm toán nội bộ và tổ chức kiểm toán.
== Cựu sinh viên Việt Nam nổi bật ==
 
* '''Hoàng Thị Hồng Trang''' ''tốt nghiệp năm 2018'', là tiến sĩ người Việt đầu tiên tốt nghiệp Đại học Quốc gia Tomsk <ref>[https://en-news.tsu.ru/news/a-postgraduate-student-from-vietnam-defended-her-thesis-at-tsu/: A postgraduate student from Vietnam defended her thesis at TSU]</ref>. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, chị trở về công tác tại Khoa Tiếng Nga, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh <ref>[https://doanthanhnien.vn/tin-tuc/guong-sang/nu-tien-si-2-lan-duoc-vinh-danh: Nữ tiến sĩ 2 lần được vinh danh]</ref>.
* '''Trường đại học Truyền hình''', '''''ВШТ МГУ'''''. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực truyền hình và báo chí: phóng viên, người dẫn chương trình, nhà sản xuất, đạo diễn, biên kịch, biên tập viên, phóng viên ảnh, nhà phê bình truyền hình. Thành lập năm 2006.
 
* '''Trường đại học Khoa học Xã hội Đương đại''', '''''ВШССН МГУ'''''. Đào tạo chuyên gia trong các lĩnh vực xã hội học, kinh tế tri thức, quản lý và kiểm soát xã hội, triết học xã hội và văn hóa học. Thành lập năm 2006.
 
* '''Trường đại học Quản trị và Đổi mới'''. Đào tạo kỹ sư thiết kế, chuyên gia công nghệ, tổ chức sản xuất, quản lý dự án khoa học-công nghệ cao. Thành lập năm 2006.
 
* '''Trường đại học Kinh doanh Đổi mới'''. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thăm dò, khai thác và chế biến tài nguyên hydrocacbon, quản lý tài nguyên thiên nhiên. Thành lập năm 2006.
 
* '''Trường đại học Chính sách Văn hóa và Quản lý trong lĩnh vực Nhân văn''', '''''ВШКПиУГС МГУ'''''. Đào tạo chuyên gia quản lý, sản xuất và lãnh đạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và thể thao. Thành lập năm 2011.
 
=== Trung tâm ===
* '''Khoa dự bị MGU''' được thành lập vào năm 1969 nhằm nâng cao trình độ giáo dục chung cho những thanh niên cần được bảo trợ và hỗ trợ của nhà nước trước khi học đại học.
* '''Trung tâm khoa học và giáo dục chuyên môn MGU''', '''''СУНЦ МГУ''''' được thành lập năm 1988 trên cơ sở trường nội trú Kolmogorov  <ref>Учреждение носило название «Специализированная школа-интернат № 18 физико-математического профиля при Московском государственном университете им. М. В. Ломоносова» или ФМШ-18 (1963—1988).</ref> <ref>[http://pms.ru/postanovlenie_soveta_ministrov/1083.html: Постановление Совета Министров СССР № 1241 от 21.10.1988]</ref>, đào tạo lớp 10 và lớp 11.
* '''Trường chuyên nội trú''' '''''УГ МГУ''''' là trường nội trú, một đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Moscow, được thành lập vào ngày 1 tháng 9 năm 2016. Chương trình đào tạo tại trường được chia thành 5 hướng chuyên: toán học, kỹ thuật, khoa học tự nhiên, nhân văn và kinh tế xã hội.
* '''Trường Sau đại học Pháp''', '''''Французский университетский колледж''''' là một cơ sở giáo dục đại học nhà nước được thành lập năm 1991 tại Đại học Quốc gia Moscow <ref>[https://www.vesti.ru/video/2073259: Французский колледж при МГУ: наука и культура вопреки политике]</ref>. Khóa học kéo dài hai năm tại trường cao đẳng cung cấp cơ hội để lấy bằng kép, được công nhận tại Pháp, tương đương với việc hoàn thành một năm bằng thạc sĩ <ref>[https://yandexwebcache.net/yandbtm?lang=ru&fmode=inject&tm=1608023207&tld=ru&la=1605890048&text=%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%BD%D1%86%D1%83%D0%B7%D1%81%D0%BA%D0%B8%D0%B9%20%D1%83%D0%BD%D0%B8%D0%B2%D0%B5%D1%80%D1%81%D0%B8%D1%82%D0%B5%D1%82%D1%81%D0%BA%D0%B8%D0%B9%20%D0%BA%D0%BE%D0%BB%D0%BB%D0%B5%D0%B4%D0%B6%20%D0%BF%D1%80%D0%B0%D0%B7%D0%B4%D0%BD%D1%83%D0%B5%D1%82%20%D1%8E%D0%B1%D0%B8%D0%BB%D0%B5%D0%B9&url=https%3A%2F%2Ftvkultura.ru%2Farticle%2Fshow%2Farticle_id%2F8896%2F&l10n=ru&mime=html&sign=77136ec43e858d7d043e1a39f6cc36b3&keyno=0: Французский университетский колледж отметил юбилей]</ref> trong một trong các ngành nhân văn sau: luật, lịch sử, xã hội học, văn học và triết học <ref>[http://www.moscuf.org/ru/o-kolledzhe: Французский университетский колледж МГУ]</ref>. Năm 2016, Đại học Pháp tại Moscow đã kỷ niệm 25 năm thành lập <ref>[https://www.vesti.ru/article/1640690: Французский университетский колледж отметил 25-й юбилей]</ref>.
 
=== Viện nghiên cứu ===
* Viện Nghiên cứu Khoa học Vật lý Hạt nhân mang tên Skobeltsyn
* Viện Cơ học
* Viện Thiên văn Nhà nước mang tên Shternberg
* Viện Nghiên cứu Khoa học Sinh học Lý-Hóa mang tên Belozersky
* Trung tâm Máy tính Nghiên cứu Khoa học
* Viện Các vấn đề lý thuyết của thế giới vi mô mang tên Bogolyubov
* Viện Nghiên cứu Toán học các Hệ thống phức tạp
* Viện Nghiên cứu và Bảo tàng Nhân học mang tên Anuchin
* Viện Sinh thái học Thổ nhưỡng
* Viện Văn hóa Thế giới
* Viện Khoa học và Văn hóa Nga-Đức
* Viện Các vấn đề về An ninh Thông tin
* Viện Vật lý Lý thuyết và Toán học
* Viện Bồi dưỡng và Tái đào tạo Giảng viên Khoa học Xã hội và Nhân văn
 
=== Chi nhánh ===
Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov có nhiều chi nhánh tại các nước SNG. Ngoài ra, kể từ năm 2015, một trường đại học liên kết Университет МГУ-ППИ đã hoạt động tại Thâm Quyến, Trung Quốc, được thành lập trên cơ sở MGU của Nga và PPI của Trung Quốc (đây không phải là một chi nhánh chính thức).
 
Năm 2024, cơ sở duy nhất của trường đại học này tại Slovenia, đặt tại thành phố Koper, được mở vào năm 2017, đã bị đóng cửa. Như hiệu trưởng trường đại học Sadovnichy đã tuyên bố, chi nhánh đã bị đóng cửa theo chỉ đạo ​​của chính phủ Slovenia <ref>[https://www.kommersant.ru/doc/7230238: В Словении закрыли единственный европейский филиал МГУ]</ref> <ref>[https://www.vedomosti.ru/society/news/2024/10/12/1068284-rektor-mgu-soobschil: Ректор МГУ сообщил о закрытии филиала вуза в Словении]</ref>.
 
* Chi nhánh tại '''[[Thành phố Sevastopol|Sevastopol]]''', được thành lập năm 1999 .
* Chi nhánh tại '''Astana''' ( Kazakhstan ), được thành lập năm 2000 .
* Chi nhánh tại '''Tashkent''' ( Uzbekistan ), được thành lập năm 2006 .
* Chi nhánh tại '''Baku''' ( Azerbaijan ), được thành lập năm 2008 .
* Chi nhánh tại '''Dushanbe''' ( Tajikistan ), được thành lập năm 2009 .
* Chi nhánh tại '''Yerevan''' ( Armenia ), được thành lập vào năm 2015 .
* Chi nhánh tại '''[[Thành phố Sarov|Sarov]]''', thành lập năm 2021 .
* Chi nhánh tại '''[[Thành phố Grozny|Grozny]]''', được thành lập vào năm 2023.
 
=== Trường khoa học và giáo dục liên ngành ===
Năm 2020, 7 '''trường khoa học và giáo dục thường trực''', '''''НОШ МГУ''''' đã được thành lập tại Đại học Tổng hợp Lomonosov Moscow như một phần của chương trình phát triển đại học <ref>[https://tass.ru/obschestvo/9650189: В МГУ появятся семь научных школ]</ref> <ref>[https://rg.ru/2020/10/07/reg-cfo/v-mgu-poiaviatsia-7-novyh-nauchno-obrazovatelnyh-shkol.html: В МГУ появятся 7 новых научно-образовательных школ]</ref>.
 
Nguyên tắc chính của việc thành lập các trường này là tổ chức công tác khoa học ở cấp độ liên ngành, tại giao điểm của các ngành khoa học khác nhau. Các trường có hai nhiệm vụ chính: nghiên cứu khoa học từ cơ bản đến hiện đại và đào tạo cán bộ.
 
Các hoạt động khoa học và giáo dục của các trường khoa học và giáo dục của trường đại học dựa trên hai đòn bẩy chính: tính cơ bản và tính liên ngành.
 
* '''Trường ''Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng về không gian''''' đào tạo chuyên gia và thực hiện nghiên cứu về: vật chất tối, lý thuyết hấp dẫn, an toàn không gian gần Trái Đất, khám phá và khai phá không gian (như Mặt Trăng).
* '''Trường ''Bảo tồn di sản văn hóa – lịch sử thế giới''''' bảo tồn các giá trị nhân văn trong bối cảnh vai trò ngày càng tăng của trí tuệ nhân tạo.
* '''Trường ''Hệ thống thần kinh, hệ thống nhận thức và trí tuệ nhân tạo''''' tập trung vào các nghiên cứu nền tảng về hoạt động của bộ não, hệ thống nhận thức và phát triển trí tuệ nhân tạo. Đồng thời thu hút nhân tài trẻ và đào tạo chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực AI.
* '''Trường ''Công nghệ phân tử của hệ sinh học và sinh học tổng hợp'''''  thực hiện nghiên cứu về công nghệ phân tử và ứng dụng vào thực tiễn.
* '''Trường ''Các phương pháp toán học trong phân tích hệ thống phức tạp'''''  nghiên cứu các hệ thống phức tạp trong xã hội – tự nhiên thời kỳ chuyển đổi số và phát triển hệ thống ngữ nghĩa cho các ngành khoa học cơ bản.
* '''Trường ''Công nghệ lượng tử, quang học và y học số''''' nghiên cứu liên ngành về cảm biến lượng tử, truyền thông lượng tử, y học số, vật lý y học bức xạ và quang học sinh học.
* '''Trường ''Tương lai của Trái Đất và biến đổi môi trường toàn cầu'''''  hướng đến các vấn đề toàn cầu: biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm, khan hiếm nước, cạn kiệt tài nguyên.
 
== Khuôn viên ==
[[Tập tin:Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov.jpg|nhỏ|500x500px]]
=== Tòa nhà chính ===
Tòa nhà chính của Đại học Quốc gia Moscow, '''''Главное здание МГУ - ГЗ МГУ''''', trong các tài liệu chính thức đôi khi được gọi là '''''Главным корпусом МГУ''''', là tòa nhà trung tâm của khu phức hợp trường đại học thuộc trên Đồi Chim sẻ ('''''Воробьёвых горах'''''). Tòa nhà chọc trời cao nhất trong Bảy tòa nhà được xây dựng theo phong cách Stalin ('''''Сталинских высоток'''''). Chiều cao: 183,2 mét (nếu tỉnh cả đỉnh tháp là 235 mét <ref>Янковский Р. М. Высотка номер один: история и архитектура Главного здания МГУ. — М.: Бомбора, 2021. — 184 с. — 1500 экз. — ISBN 978-5-04-116390-7, с. 109.</ref>), số tầng ở tòa nhà trung tâm: 32 tầng <ref>[http://www.sovarch.ru/57/: Сталинские высотные здания]</ref> <ref>''Николай Кружков'' [http://www.mmforce.net/msu/heart/articles/1518/: Из истории московских небоскребов. Все московские высотки были заложены в один день.] Главному зданию МГУ – 50 лет</ref>. Chiều cao của chân đế so với mực nước biển là 194m <ref>[http://www.geogr.msu.ru/science/aero/acenter/atlas/34-35.htm: Главное здание Московского университета.] Географический факультет МГУ имени М. В. Ломоносова</ref>.
Được xây dựng vào năm 1949-1953 theo thiết kế của các kiến ​​trúc sư Boris Iofan, Lev Rudnev, Sergei Chernyshev, Pavel Abrasimov, Alexander Khryakov và kỹ sư Vsevolod Nasonov. Xưởng của Vera Mukhina phụ trách trang trí điêu khắc cho mặt tiền. Cho đến những năm 1990, tòa nhà này là tòa nhà cao nhất châu Âu <ref>[http://countrymoscow.ru/stalinskie-visotki/stalinskie-visotki-glavnoe-zdanie-moskovskogo-gosudarstvennogo-universiteta.html: Сталинские высотки — Главное здание Московского государственного университета]</ref> <ref>''Филипп Алексенко, Анна Ким.'' [https://www.rbc.ru/photoreport/07/09/2017/59b030489a79477b73cf51c9: Как строились сталинские высотки]</ref>.
 
Phần trung tâm (khu «А») có 36 tầng. Văn phòng hiệu trưởng và các dịch vụ và tổ chức chung của trường đại học, hội đồng thanh niên, các khoa cơ học và toán học , địa lý và địa chất, bảo tàng khoa học trái đất, các phòng thí nghiệm và giảng đường chung của trường đại học, thư viện và các cơ sở phục vụ ăn uống đều tọa lạc tại đây.
 
Từ phần trung tâm, các tòa nhà ký túc xá 18 tầng (khu «Б» và «В») với các tòa tháp cao tới tầng 24 kéo dài. Từ các khu vực này, lần lượt phân ra các khu vực 9 tầng «Г», «Д», «Е» и «Ж», cũng là nơi có nhà trọ và khách sạn. Các tòa tháp liền kề với tòa nhà chính («И», «К», «Л», «М») là nơi có các căn hộ dành cho giáo sư và giáo viên.
 
== Cựu sinh viên nổi tiếng ==
Trong số những sinh viên tốt nghiệp của trường có những người đoạt giải Nobel , giải thưởng Fields và các chính trị gia lớn, bao gồm cả các nhà lãnh đạo quốc gia.
 
=== Những người đoạt giải Nobel Vật lý ===
* Igor Evgenievich Tamm
* Ilya Mikhailovich Frank
* Vitaly Lazarevich Ginzburg
* Alexey Alexeevich Abrikosov
 
=== Những người đoạt giải Nobel Hóa học ===
* Nikolai Nikolaevich Semenov
 
=== Những người đoạt giải Nobel Hòa bình ===
* Andrei Dmitrievich Sakharov
* Mikhail Sergeevich Gorbachev
 
=== Những người đoạt Huy chương Fields ===
* Sergei Petrovich Novikov
* Grigory Aleksandrovich Margulis
* Vladimir Gershonovich Drinfeld
* Maxim Lvovich Kontsevich
* Vladimir Aleksandrovich Voevodsky
* Andrey Yuryevich Okounkov
 
=== Cựu sinh viên Việt Nam nổi bật ===
* '''Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Trang''' ''tốt nghiệp năm 2018'', là tiến sĩ người Việt đầu tiên tốt nghiệp Đại học Quốc gia Tomsk <ref>[https://en-news.tsu.ru/news/a-postgraduate-student-from-vietnam-defended-her-thesis-at-tsu/: A postgraduate student from Vietnam defended her thesis at TSU]</ref>. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, chị trở về công tác tại Khoa Tiếng Nga, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh <ref>[https://doanthanhnien.vn/tin-tuc/guong-sang/nu-tien-si-2-lan-duoc-vinh-danh: Nữ tiến sĩ 2 lần được vinh danh]</ref>.
 
== Giải thưởng và chứng nhận mà Đại học Quốc gia Moscow cấp ==
Giải thưởng cao nhất của Đại học Moscow, '''Giải thưởng Lomonosov''', được thành lập theo Nghị quyết của Hội đồng Dân ủy Liên Xô vào ngày 29 tháng 5 năm 1944; những người đoạt giải đầu tiên đã được trao giải thưởng vào cùng năm đó <ref>[http://www.msu.ru/lomonosov/science/prem.html: Премия имени М. В. Ломоносова]</ref>. Từ năm 1993, Giải thưởng Lomonosov cũng được trao cho các hoạt động giảng dạy.
 
'''Giải thưởng Shuvalov''' là giải thưởng được trao cho các giáo sư, giảng viên và cán bộ nghiên cứu của Đại học Quốc gia Moscow vì công trình khoa học, được thành lập năm 1993 như một phần của chương trình hỗ trợ thanh thiếu niên tài năng.
 
Từ năm 1998 <ref>Решение Учёного Совета МГУ от 7 декабря 1997 года.</ref>, 4 loại danh hiệu danh dự đã được đưa vào hệ thống khuyến khích và giải thưởng tại Đại học Tổng hợp Moscow: '''''Giáo sư danh dự''''', '''''Nghiên cứu viên danh dự''''', '''''Giáo viên danh dự''''' và '''''Nhân viên danh dự''''' <ref>[https://www.msu.ru/upload/pdf/docs/zasl2021.pdf: Положение о присвоении почётных званий МГУ]</ref>.
 
'''Học bổng MGU''' được trao hàng năm cho giáo viên và cán bộ nghiên cứu của MGU dưới 33 tuổi, có bằng cấp học thuật và đạt được thành tích đáng kể trong lĩnh vực giảng dạy và hoạt động nghiên cứu. Những kết quả này cần được phản ánh trong sách giáo khoa, phương tiện giảng dạy, các phát triển về phương pháp giảng dạy, cũng như trong các ấn phẩm trên các tạp chí và ấn phẩm khoa học hàng đầu được bình duyệt .


== Hiệu trưởng ==
== Hiệu trưởng ==
 
<div style="column-count: 3; -moz-column-count: 3; -webkit-column-count: 3;">
=== Giai đoạn 1755–1803 ===
* 1888–1889 Н. А. Гезехус
* 1755–1757 — Alexey Mikhailovich Argamakov 
* 1889-1889 А. С. Догель
* 1757–1763 — Ivan Ivanovich Melissino 
* 1890–1892 В. Н. Великий
* 1763–1770 — Mikhail Matveevich Kheraskov 
* 1892–1894 А. И. Судаков
* 1770–1771 — Anton Antonovich Teil's (quyền giám đốc) 
* 1894–1895 Н. Ф. Кащенко
* 1771–1784 — Mikhail Vasilievich Priklonsky 
* 1895-1895 Н. М. Малиев
* 1784–1796 — Pavel Ivanovich Fonvizin 
* 1895–1903 А. И. Судаков
* 1796–1803 — Ivan Petrovich Turgenev 
* 1903–1906 М. Г. Курлов
 
* 1906–1909 В. В. Сапожников
=== Giai đoạn 1803-1917 ===
* 1909–1913 И. А. Базанов
* 1803–1805 — Khariton Andreevich Chebotaryov 
* 1913–1916 М. Ф. Попов
* 1805–1807 Pyotr Ivanovich Strakhov 
* 1916–1917 И. Н. Грамматикати
* 1807–1808 — Fyodor Grigoryevich Bauze 
* 1917–1918 В. В. Сапожников
* 1808–1819 — Ivan Andreevich Geim 
* 1918–1921 А. П. Поспелов
* 1819–1826 — Anton Antonovich Prokopovich-Antonsky 
* 1921–1922 Б. Л. Богаевский
* 1826–1833 Ivan Alekseevich Dvigubsky 
* 1922-1922 В. Д. Кузнецов
* 1833–1836 Alexey Vasilievich Boldyrev 
* 1922–1929 В. Н. Саввин
* 1837–1842 Mikhail Trofimovich Kachenovsky 
* 1929–1931 Д. В. Горфин
* 1842–1848 Arkady Alekseevich Alfonsky 
* 1931–1932 А. И. Мискинов
* 1848–1850 — Dmitry Matveevich Perevoshchikov 
* 1932–1936 А. Л. Щепотьев
* 1850–1863 — Arkady Alekseevich Alfonsky (lần 2) 
* 1936–1937 Б. П. Токин
* 1863–1870 — Sergey Ivanovich Barshev 
* 1937–1938 М. Г. Журавков
* 1871–1877 — Sergey Mikhailovich Solovyov 
* 1938-1938 И. И. Колюшев
* 1877–1883 — Nikolai Savvich Tikhonravov 
* 1938–1948 Я. Д. Горлачёв
* 1883–1887 — Nikolai Pavlovich Bogolepov 
* 1948–1954 В. Т. Макаров
* 1887–1891 — Gavriil Afanasyevich Ivanov 
* 1954–1960 А. П. Бунтин
* 1891–1893 — Nikolai Pavlovich Bogolepov (lần 2) 
* 1960-1960 В. А. Пегель
* 1893–1898 — Pavel Alekseevich Nekrasov 
* 1961–1967 А. И. Данилов
* 1898-1898 — Nikolai Andreevich Zverev 
* 1967–1983 А. П. Бычков
* 1898–1899 Dmitry Nikolaevich Zernov 
* 1983–1992 Ю. С. Макушкин
* 1899–1904 Alexander Andreevich Tikhomirov 
* 1992–1995 М. К. Свиридов
* 1904–1905 Leonid Kuzmich Lakhtin 
* 1995–2013 Г. В. Майер
* 1905-1905 Sergey Nikolaevich Trubetskoy 
* 2013– nay — Э. В. Галажинский
* 1905–1911 Alexander Apollonovich Manuilov 
</div>
* 1911–1917 Matvey Kuzmich Lyubavsky 
 
=== Giai đoạn 1917-1919 ===
* 1917–1919 Mikhail Aleksandrovich Menzbir 
* 1919-1919 Vladimir Sergeevich Gulevich 
* 1919–1920 Mikhail Mikhailovich Novikov 
 
=== Giai đoạn 1920-1921 ===
* 1920–1921 Dmitry Petrovich Bogolepov 
* 1921-1921 Vyacheslav Petrovich Volgin 
 
=== Giai đoạn 1921-1929 ===
* 1921–1925 Vyacheslav Petrovich Volgin 
* 1925–1928 Andrey Yanuarievich Vyshinsky 
* 1928–1929 Ivan Dmitrievich Udaltsov (quyền hiệu trưởng) 
 
=== Giai đoạn 1929-1939 ===
* 1929–1930 Ivan Dmitrievich Udaltsov 
* 1930–1934 Vasily Nikolaevich Kasatkin 
* 1934-1934 Matvey Georgievich Kadek (quyền giám đốc) 
* 1934–1939 — Alexey Sergeevich Butyagin 
 
=== Giai đoạn 1939-nay ===
* 1939–1941 Alexey Sergeevich Butyagin 
* 1941–1942 Boris Pavlovich Orlov (quyền hiệu trưởng – khu vực Moscow) 
* 1941–1942 Mikhail Mikhailovich Filatov (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad) 
* 1943-1943 Ilya Savvich Galkin (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad và Sverdlovsk) 
* 1943-1943 Alexey Sergeevich Butyagin 
* 1943–1947 Ilya Savvich Galkin 
* 1948–1951 Alexander Nikolaevich Nesmeyanov 
* 1951–1973 Ivan Georgievich Petrovsky 
* 1973–1977 Rem Viktorovich Khokhlov 
* 1977–1992 Anatoly Alekseevich Logunov 
* 1992-nay — Viktor Antonovich Sadovnichy


== Tham khảo ==
== Tham khảo ==
<references />
<references />

Bản mới nhất lúc 18:06, ngày 22 tháng 4 năm 2025

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TOMSK
Национальный исследовательский Томский государственный университет
ТГУ
Tên quốc tế National Research Tomsk State University
Tên viết tắt ТГУ, TGU, TSU
Tên cũ Đại học Hoàng gia Siberia
Đại học Hoàng gia Tomsk
Tiêu ngữ Мудрость миру открывающая
Mens Mundo Aperiens
Trt thức mở ra thế giới
Thành lập 16 (28) Tháng Năm, 1878
Địa chỉ 634050, Томск, пр. Ленина, 36
Website tsu.ru
Sinh viên 16.000 (2025) [1]
Sv đại học
Sv quốc tế 2.000
Thành tích
Huân chương Cách mạng Tháng Mười (Liên Xô)
Huân chương Cờ đỏ Lao động (Liên Xô)

Đại học Nghiên cứu Quốc gia Tomsk (tiếng Nga: Национальный исследовательский Томский государственный университет) [2], một trường đại học ở Tây Siberia, được thành lập vào năm 1878, là trường đại học đầu tiên ở khu vực châu Á của Nga và trên thực tế là trường đại học đầu tiên của Nga ở phía Đông sông Volga. Trường tọa lạc tại thành phố Tomsk. TSU là một trong 29 [3] trường đại học nghiên cứu quốc gia.

Lịch sử

Danh sách tên gọi chính thức trong lịch sử

STT Giai đoạn Tên chính thức Tên tiếng Việt
1 1878-1888 Сибирский Императорский университет Đại học Hoàng gia Siberia
2 1888—1919 Императорский Томский университет Đại học Hoàng gia Tomsk
3 1919—1934 Томский государственный университет (ТГУ) Đại học Quốc gia Tomsk (TSU)
4 1934—1967 Томский государственный университет имени Валериана Владимировича Куйбышева (ТГУ) Đại học Quốc gia Tomsk mang tên Valerian Vladimirovich Kuibyshev (TSU)
5 1967—1980 Томский ордена Трудового Красного Знамени государственный университет имени В. В. Куйбышева (ТГУ) Đại học Quốc gia Tomsk mang tên Kuibyshev (TSU)
6 1980—1991 Томский ордена Октябрьской Революции и ордена Трудового Красного Знамени государственный университет имени В. В. Куйбышева (ТГУ) Đại học Quốc gia Tomsk mang tên Kuibyshev với Huân chương Cách mạng Tháng Mười và Huân chương Cờ đỏ Lao động (TSU) [4]
7 1991-2002 Томский государственный университет Đại học Quốc gia Tomsk
8 2002—2011 Государственное образовательное учреждение высшего профессионального образования «Томский государственный университет» (ТГУ) Đại học Quốc gia Tomsk (TSU)
9 2011—2014 Федеральное государственное бюджетное образовательное учреждение высшего профессионального образования «Национальный исследовательский Томский государственный университет» (ТГУ или НИ ТГУ) Đại học Nghiên cứu Quốc gia Tomsk (TSU hoặc NI TSU)
10 Từ 2014 Федеральное государственное автономное образовательное учреждение высшего образования «Национальный исследовательский Томский государственный университет» Đại học Nghiên cứu Quốc gia Tomsk

Trước Cách mạng Tháng Mười

Khởi nguyên của Đại học Hoàng gia Siberia bao gồm 4 khoa: Khoa Lịch sử và Ngữ văn; Khoa Vật lý và Toán học; Khoa Luật và Y; được bắt đầu vào ngày 16 (28) tháng Năm, 1878[5] theo sắc lệnh của Hội đồng quốc gia Đế quốc Nga [6]. Bản thiết kế tòa nhà chính được hoàn thành bởi kiến trúc sư Alexander Konstantinovich Bruni ở Saint Petersburg và được giám sát thi công một cách linh hoạt thực hiện một cách sáng tạo bởi kiến ​​trúc sư bản địa là Pavel Petrovich Naranovich [7].

Đại học Hoàng gia Siberia được khởi công vào ngày 26 tháng 8 (7 tháng 9) năm 1880 và được khánh thành vào ngày 22 tháng 7 (3 tháng 8) năm 1888 , với một khoa là Khoa Y (năm 1930 khoa này được chuyển đổi thành Viện Y khoa Tomsk[8]), với người lãnh đạo là Alexander Stanislavovich Dogel. Trường khai giảng với 8 giáo sư, 7 người trợ giảng, 72 sinh viên và 2 nhân viên, và tiết học đầu tiên mang chủ đề "Cuộc sống là gì?" [9]. Khoa thứ hai của trường là Khoa Luật được mở vào năm 1898 [10].

Đợt tuyển sinh đầu tiên có 72 người, đợt tốt nghiệp đầu tiên (31 bác sĩ, 16 người trong số họ nhận bằng xuất sắc) diễn ra vào tháng 12 năm 1893. Trong số những người tốt nghiệp đầu tiên có các chuyên gia nổi tiếng sau này là Alexey Alexandrovich Kulyabko, Pavel Vasilievich Butyagin, Sergei Mikhailovich Timashev. Tổng cộng, trong giai đoạn trước cách mạng (1888-1917), trường đã đào tạo 1.584 bác sĩ và 240 luật sư [11].

Trong Liên bang Xô Viết

Trong Nội chiến, nhiều giáo sư từ các trường đại học ở PermKazan đã được sơ tán đến Tomsk và làm việc tại Đại học Quốc gia Tomsk [12]. Năm 1920, Khoa Luật được tổ chức lại thành Khoa Xã hội học, sau đó Khoa Lịch sử và Ngữ văn mở vào năm 1921. Năm 1922, Khoa Khoa học Xã hội bị đóng cửa và trường không đào tạo các ngành về xã hội và nhân văn cho đến năm 1940 [13].

Vào tháng 7 năm 1931, Khoa Sư phạm của Đại học Quốc gia Tomsk được chuyển đổi thành Học viện Sư phạm Quốc gia Tomsk [14].

Trong thời kỳ Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, các hoạt động của Đại học Quốc gia Tomsk đã được cải cách đáng kể. Trong những năm 1944-1955, TSU là một trong những trung tâm nghiên cứu hàng đầu của đất nước về phát triển các hệ thống phòng thủ mới và là đơn vị đi đầu trong việc chứng minh khoa học cho các dự án kinh tế và nông nghiệp toàn cầu của đất nước.

Ngày 7 tháng 1 năm 1967, Đại học Quốc gia Tomsk được trao tặng Huân chương Cờ đỏ Lao động theo Sắc lệnh của Đoàn chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô vì những đóng góp của trường trong việc phát triển khoa học và đào tạo chuyên gia, và ngày 8 tháng 9 năm 1980, Huân chương Cách mạng Tháng Mười vì những đóng góp to lớn của trường trong việc đào tạo chuyên gia có trình độ cao cho nền kinh tế quốc dân, phát triển khoa học và hướng đến đến kỷ niệm 100 năm thành lập trường.

Trong Liên bang Nga

Năm 1995, Khoa Văn hóa và Khoa Ngoại ngữ là 2 khoa đầu tiên của trường được lập trong giai đoạn hậu Liên Xô [15] [16].

Theo Sắc lệnh số 30 ngày 15 tháng 1 năm 1998 của Tổng thống Liên bang Nga, Đại học Quốc gia Tomsk được đưa vào Danh mục quốc gia về Di sản văn hóa đặc biệt có giá trị của Nhân dân Liên bang Nga [17].

Theo Sắc lệnh của Chính phủ Liên bang Nga ngày 9 tháng 3 năm 2006 số 306-r, Đại học Quốc gia Tomsk được tái cấu trúc thông qua sáp nhập nhiều cơ sở giáo dục khác tại địa phương.

Vào ngày 16 tháng 2 năm 2007, Cyberia SKIF[18] đã được lắp đặt tại Đại học Quốc gia Tomsk, là siêu máy tính mạnh nhất vào thời điểm đó ở các nước SNG và Đông Âu (nếu không tính phần lãnh thổ Nga ở phía Tây dãy Ural) [19].

Là một phần của quá trình chuyển đổi giáo dục đại học ở Nga và việc giới thiệu hệ thống các trường đại học hàng đầu, Đại học Quốc gia Tomsk vào ngày 27 tháng 4 năm 2010 đã nhận được quy chế trở thành Đại học Nghiên cứu Quốc gia (NRU)[20] và cơ hội làm việc với các nhà khoa học xuất sắc từ khắp nơi trên thế giới.

Từ năm 2013, Đại học Quốc gia Tomsk đã tham gia Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường đại học hàng đầu của Nga giữa các trung tâm khoa học và giáo dục hàng đầu thế giới [21].

Tính đến tháng 5 năm 2019, TSU bao gồm 15 khoa và năm viện [22] với 23 nghìn sinh viên, 800 nghiên cứu sinh sau đại học và tiến sĩ , trong đó hơn 2200 là sinh viên quốc tế đến từ 39 quốc gia [23].

Hơn 100 Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Viện Hàn lâm Khoa học Y khoa Nga và các Viện hàn lâm khoa học của các quốc gia khác, hơn 250 người đoạt Giải thưởng quốc gia và 3 người đoạt Giải Nobel đã học và làm việc tại TSU [24].

Về cơ sở vật chất, niềm tự hào của trường đại học là Thư viện Khoa học với hơn 3,7 triệu bản [25], các bảo tàng sách quý và Vườn Bách thảo Siberia.

Uy tín và Xếp hạng

Năm 2014, «Эксперт РА» đã xếp hạng Đại học Quốc gia Tomsk ở mức “B”, nghĩa là trình độ đào tạo của sinh viên tốt nghiệp ở mức rất cao. Trường đại học duy nhất ở SNG được xếp loại “A” (đặc biệt cao) trong bảng xếp hạng này là Đại học Quốc gia Moscow.

Năm 2020, Quacquarelli Symonds đã công bố QS World University Ranking 2021, một trong những bảng xếp hạng có uy tín nhất trong cộng đồng học thuật. Đại học Quốc gia Tomsk lọt vào TOP-300 trường đại học tốt nhất thế giới, đứng ở vị trí thứ 250 [26] và trở thành trường đại học thứ tư của Liên bang Nga góp mặt trong bảng xếp hạng này.

Cũng trong năm 2020, theo ấn phẩm Times Higher Education (THE) , Đại học Quốc gia Tomsk xếp trong nhóm 501–600 [27] trường đại học hàng đầu thế giới, và đạt vị trí thứ 103 trong danh sách các trường đại học có tính quốc tế hóa cao nhất thế giới, trở thành trường đại học đầu tiên của Nga được xếp trong bảng xếp hạng này [28].

Năm 2022, Đại học Quốc gia Tomsk lọt vào Bảng xếp hạng quốc tế “ Ba sứ mệnh của trường đại học ”, đạt vị trí thứ 196[29] . Cùng năm, trường đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng RAEX về "100 trường đại học tốt nhất tại Nga"[30] và đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng về tầm ảnh hưởng của các trường đại học tại Nga[31] . Trong bảng xếp hạng chuyên ngành RAEX, trường được đưa vào danh sách các trường đại học tốt nhất trong 17 lĩnh vực nghiên cứu [32].

Hoạt động giáo dục

Ấn bản khoa học

  • Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Tomsk [33]
  • Tạp chí khoa học TSU. Triết học. Xã hội học. Chính trị học [34]
  • Tạp chí khoa học TSU. Sinh học [35]
  • Tạp chí khoa học TSU. Lịch sử [36]
  • Tạp chí khoa học TSU. Toán học. Cơ học [37]
  • Tạp chí khoa học TSU. Điều khiển. Khoa học và kỹ thuật máy tính [38]
  • Tạp chí khoa học TSU. Ngữ văn [39]
  • Tạp chí khoa học TSU. Kinh tế [40]
  • Tạp chí khoa học TSU. Văn hóa và lịch sử nghệ thuật [41]
  • Tạp chí Toán rời rạc ứng dụng [42]
  • Tạp chí Ngôn ngữ và Văn hóa (do Khoa Ngoại ngữ xuất bản hàng quý).

Hợp tác quốc tế

Đại học Quốc gia Tomsk là thành viên của UArctic[43] , mạng lưới hợp tác quốc tế bao gồm các trường đại học có cơ sở đào tạo trong vành đai Bắc Cực, bao gồm hơn 200 trường đại học và các tổ chức khác có mối quan tâm trong việc thúc đẩy giáo dục và nghiên cứu tại khu vực Bắc Cực [44]. Sự hợp tác đã bị tạm dừng sau Chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga [45].

Cấu trúc

Khoa

Tên Khoa/Viện Năm thành lập Các tên gọi trước đó (và năm thành lập)
Viện Sinh học (БИ) 2007 Khoa Sinh học (1935)
Khoa Địa chất – Địa lý (ГГФ) 1952 Khoa Địa lý – Thổ nhưỡng – Địa chất (1933)
Khoa Địa lý (1393)
Khoa Hóa học (ХФ) 1932
Viện Kinh tế và Quản lý (ИЭМ) 2016 Khoa Kinh tế (1963)
Viện Luật (ЮИ) 1994 Khoa Luật (1898)
Khoa Khoa học Xã hội (1920)
Khoa Triết học (ФсФ) 1987
Viện Nghệ thuật và Văn hóa (ИИК) 2001 Khoa Văn hóa học (1995)
Khoa Tâm lý học (ФП) 1996
Khoa Lịch sử và Khoa học Chính trị (ФИПН) 2018 Khoa Ngữ văn – Lịch sử (1917)
Khoa Lịch sử (1940)
Khoa Ngữ văn (ФилФ) 1974 Khoa Ngữ văn – Lịch sử (1917)
Khoa Ngoại ngữ (ФИЯ) 1995 Bộ môn Ngoại ngữ (1931)
Khoa Báo chí (ФЖ) 2004
Khoa Cơ học – Toán học (ММФ) 1948 Khoa Vật lý – Toán học (1917)
Khoa Vật lý (ФФ) 1948 Khoa Vật lý – Toán học (1917)
Khoa Vật lý – Kỹ thuật (ФТФ) 1933
Viện Toán học Ứng dụng và Khoa học Máy tính (ИПМиКН)
Khoa Khoa học Máy tính
Khoa Toán học Ứng dụng
2017
Khoa Vô tuyến điện tử (РФФ) 1953
Khoa Giáo dục Thể chất (ФФК) 2005
Viện Giáo dục Quân sự 2008 1926 — Bộ môn Giáo dục Quân sự
Khoa Công nghệ Sáng tạo (ФИТ) 2009
Trung tâm Giáo dục – Nghiên cứu Trường CNTT Cao cấp (HITs) 2017
Khoa Dự bị Đại học
Viện Giáo dục 2020

Chi nhánh và đơn vị trực thuộc trường

  • Viện Luật Novosibirsk (chi nhánh) của Đại học Quốc gia Tomsk
  • Viện Vật lý và Công nghệ Siberia
  • Viện nghiên cứu Toán ứng dụng và Cơ học
  • Viện nghiên cứu Sinh học và Vật lý Sinh học
  • Vườn Bách thảo Siberia
  • Thư viện khoa học

Bảo tàng

  • Bảo tàng Lịch sử TSU (1984, mở cửa trở lại năm 2002)
  • Vườn bách thảo Siberia (1880)
  • Bảo tàng Khảo cổ học và Dân tộc học Siberia mang tên Florinsky (1882)
  • Bảo tàng Động vật học (1885)
  • Bảo tàng Thực vật học mang tên Krylov (1885)
  • Bảo tàng Cổ sinh vật học mang tên Khakhlov[46] (1888)
  • Bảo tàng Khoáng vật học mang tên Bazhenov (1888)
  • Phòng Bản thảo và Di tích Sách của Thư viện Quốc gia TSU (1944)
  • Bảo tàng Lịch sử Vật lý (1985)
  • Bảo tàng Sách của Thư viện Khoa học TSU (2005)

Giáo sư đạt giải Nobel

  • Ivan Petrovich Pavlov - Nobel Sinh lý học và Y khoa năm 1904
  • Nikolay Nikolayevich Semyonov - Nobel Hóa học năm 1956

Cựu sinh viên Việt Nam nổi bật

  • Hoàng Thị Hồng Trang tốt nghiệp năm 2018, là tiến sĩ người Việt đầu tiên tốt nghiệp Đại học Quốc gia Tomsk [47]. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, chị trở về công tác tại Khoa Tiếng Nga, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh [48].

Hiệu trưởng

  • 1888–1889 — Н. А. Гезехус
  • 1889-1889 — А. С. Догель
  • 1890–1892 — В. Н. Великий
  • 1892–1894 — А. И. Судаков
  • 1894–1895 — Н. Ф. Кащенко
  • 1895-1895 — Н. М. Малиев
  • 1895–1903 — А. И. Судаков
  • 1903–1906 — М. Г. Курлов
  • 1906–1909 — В. В. Сапожников
  • 1909–1913 — И. А. Базанов
  • 1913–1916 — М. Ф. Попов
  • 1916–1917 — И. Н. Грамматикати
  • 1917–1918 — В. В. Сапожников
  • 1918–1921 — А. П. Поспелов
  • 1921–1922 — Б. Л. Богаевский
  • 1922-1922 — В. Д. Кузнецов
  • 1922–1929 — В. Н. Саввин
  • 1929–1931 — Д. В. Горфин
  • 1931–1932 — А. И. Мискинов
  • 1932–1936 — А. Л. Щепотьев
  • 1936–1937 — Б. П. Токин
  • 1937–1938 — М. Г. Журавков
  • 1938-1938 — И. И. Колюшев
  • 1938–1948 — Я. Д. Горлачёв
  • 1948–1954 — В. Т. Макаров
  • 1954–1960 — А. П. Бунтин
  • 1960-1960 — В. А. Пегель
  • 1961–1967 — А. И. Данилов
  • 1967–1983 — А. П. Бычков
  • 1983–1992 — Ю. С. Макушкин
  • 1992–1995 — М. К. Свиридов
  • 1995–2013 — Г. В. Майер
  • 2013– nay — Э. В. Галажинский

Tham khảo

  1. Facts and Figures
  2. УСТАВ федерального государственного бюджетного образовательного учреждения высшего профессионального образования «Национальный исследовательский Томский государственный университет»
  3. Национальные исследовательские университеты России - список вузов, факультеты и специальности
  4. Наш город родной. Исторические и памятные места Томска. (Сост. М. И. Чугунов, В. А. Соловьёва). Новосибирск: Западно-Сибирское книжное издательство, 1982. — 216 с., 24 л. ил; с. 113
  5. Энциклопедический словарь Брокгауза и Ефрона : в 86 т. (82 т. и 4 доп.). — СПб., 1890—1907.
  6. Основные сведения
  7. Императорский Томский университет
  8. От медицинского факультета Императорского Томского университета к Сибирскому государственному медицинскому университету
  9. История названий томских улиц. — Томск: Издательство Д-Принт, 2012. — 368 с. — ISBN 978-5-902514-51-0.
  10. Открытие Юридического факультета и его деятельность в 1898-1922 гг. Юридический институт ТГУ
  11. Наш город родной. Исторические и памятные места Томска. (Сост. М. И. Чугунов, В. А. Соловьёва). Новосибирск: Западно-Сибирское книжное издательство, 1982. — 216 с., 24 л. ил; с. 115
  12. ИСТОРИЯ ФИПН
  13. Краткий очерк истории исторического факультета ТГУ
  14. Войтеховская М. П., Галкина Т.В. Томский педагогический: от института к университету. Томск, 2002. — 268 с. — с. 17
  15. Об институте
  16. ИСТОРИЯ ФАКУЛЬТЕТА
  17. Указ Президента Российской Федерации от 15.01.1998 г. № 30
  18. Телекомпания ТВ2
  19. Суперкомпьютеры в вузах РФ должны быть отечественными - Грызлов
  20. ТГУ получил статус "Национального исследовательского университета
  21. Три сибирских университета получат субсидии на продвижение в рейтингах
  22. Факультеты и институты
  23. Tomsk State University
  24. Нобелевские лауреаты в ТГУ. Alma Mater
  25. Коллекции Научной библиотеки Томского государственного университета
  26. QS World University Rankings 2021
  27. World University Rankings
  28. Most international universities in the world
  29. Рейтинг Три Миссии Университетов, 2022
  30. Рейтинг лучших вузов России RAEX-100, 2022 год
  31. Названы самые влиятельные вузы России
  32. Томский государственный университет
  33. Вестник Томского государственного университета
  34. Вестник Томского государственного университета. Философия. Социология. Политология
  35. Вестник Томского государственного университета. Биология
  36. Вестник Томского государственного университета. История
  37. Вестник Томского государственного университета. Математика и механика
  38. Вестник Томского государственного университета. Управление. Вычислительная техника и информатика
  39. Вестник Томского государственного университета. Филология
  40. Вестник Томского государственного университета. Экономика
  41. Вестник Томского государственного университета. Культурология и искусствоведение
  42. Прикладная дискретная математика
  43. Members. UArctic
  44. About Us. UArctic
  45. Shared Voices 2022. UArctic
  46. Палеонтологический музей имени В. А. Хахлова
  47. A postgraduate student from Vietnam defended her thesis at TSU
  48. Nữ tiến sĩ 2 lần được vinh danh