Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Đại học Quốc gia Tomsk”

Từ Wiki Du học Nga
 
(không hiển thị 21 phiên bản ở giữa của cùng người dùng)
Dòng 76: Dòng 76:
</div>
</div>
=== Trước Cách mạng Tháng Mười ===
=== Trước Cách mạng Tháng Mười ===
Khởi nguyên của '''Đại học Hoàng gia Siberia''' bao gồm 4 khoa: Khoa Lịch sử và Ngữ văn; Khoa Vật lý và Toán học; Khoa Luật và Y; được bắt đầu vào ngày 16 (28) tháng Năm, 1878 [ 4 ] theo sắc lệnh của Hội đồng quốc gia Đế quốc Nga [ 6 ]. Bản thiết kế tòa nhà chính được hoàn thành bởi kiến trúc sư Alexander Konstantinovich Bruni ở [[Thành phố Saint Petersburg|Saint Petersburg]] và được giám sát thi công một cách linh hoạt thực hiện một cách sáng tạo bởi kiến ​​trúc sư bản địa là Pavel Petrovich Naranovich [ 7 ] .
Khởi nguyên của '''Đại học Hoàng gia Siberia''' bao gồm 4 khoa: Khoa Lịch sử và Ngữ văn; Khoa Vật lý và Toán học; Khoa Luật và Y; được bắt đầu vào ngày 16 (28) tháng Năm, 1878<ref>Энциклопедический словарь Брокгауза и Ефрона : в 86 т. (82 т. и 4 доп.). — СПб., 1890—1907.</ref> theo sắc lệnh của Hội đồng quốc gia Đế quốc Nga <ref>[https://www.tsu.ru/sveden/common/: Основные сведения]</ref>. Bản thiết kế tòa nhà chính được hoàn thành bởi kiến trúc sư Alexander Konstantinovich Bruni ở [[Thành phố Saint Petersburg|Saint Petersburg]] và được giám sát thi công một cách linh hoạt thực hiện một cách sáng tạo bởi kiến ​​trúc sư bản địa là Pavel Petrovich Naranovich <ref>[https://web.archive.org/web/20141106173929/http://www.ssmu.ru/ofice/general/history/ssmu1888.shtml: Императорский Томский университет]</ref>.


'''Đại học Hoàng gia Siberia''' được khởi công vào ngày 26 tháng 8 (7 tháng 9) năm 1880 và được khánh thành vào ngày 22 tháng 7 (3 tháng 8) năm 1888 , với một khoa là Khoa Y (năm 1930 khoa này được chuyển đổi thành [[Đại học Y khoa Quốc gia Siberia|Viện Y khoa Tomsk]] [ 8 ] ), với người lãnh đạo là Alexander Stanislavovich Dogel. Trường khai giảng với 8 giáo sư, 7 người trợ giảng, 72 sinh viên và 2 nhân viên, và tiết học đầu tiên mang chủ đề "Cuộc sống là gì?" [ 9 ]. Khoa thứ hai của trường là Khoa Luật được mở vào năm 1898 [ 10 ] .
'''Đại học Hoàng gia Siberia''' được khởi công vào ngày 26 tháng 8 (7 tháng 9) năm 1880 và được khánh thành vào ngày 22 tháng 7 (3 tháng 8) năm 1888 , với một khoa là Khoa Y (năm 1930 khoa này được chuyển đổi thành [[Đại học Y khoa Quốc gia Siberia|Viện Y khoa Tomsk]]<ref>[https://web.archive.org/web/20150213213237/http://ssmu.ru/ofice/history.shtml: От медицинского факультета Императорского Томского университета к Сибирскому государственному медицинскому университету]</ref>), với người lãnh đạo là Alexander Stanislavovich Dogel. Trường khai giảng với 8 giáo sư, 7 người trợ giảng, 72 sinh viên và 2 nhân viên, và tiết học đầu tiên mang chủ đề "Cuộc sống là gì?" <ref>История названий томских улиц. — Томск: Издательство Д-Принт, 2012. — 368 с. — ISBN 978-5-902514-51-0.</ref>. Khoa thứ hai của trường là Khoa Luật được mở vào năm 1898 <ref>[http://ui.tsu.ru/?page_id=6020: Открытие Юридического факультета и его деятельность в 1898-1922 гг.] ''Юридический институт ТГУ''</ref>.


Đợt tuyển sinh đầu tiên có 72 người, đợt tốt nghiệp đầu tiên (31 bác sĩ, 16 người trong số họ nhận bằng xuất sắc) diễn ra vào tháng 12 năm 1893. Trong số những người tốt nghiệp đầu tiên có các chuyên gia nổi tiếng sau này là Alexey Alexandrovich Kulyabko, Pavel Vasilievich Butyagin, Sergei Mikhailovich Timashev. Tổng cộng, trong giai đoạn trước cách mạng (1888-1917), trường đã đào tạo 1.584 bác sĩ và 240 luật sư [ 15 ] .
Đợt tuyển sinh đầu tiên có 72 người, đợt tốt nghiệp đầu tiên (31 bác sĩ, 16 người trong số họ nhận bằng xuất sắc) diễn ra vào tháng 12 năm 1893. Trong số những người tốt nghiệp đầu tiên có các chuyên gia nổi tiếng sau này là Alexey Alexandrovich Kulyabko, Pavel Vasilievich Butyagin, Sergei Mikhailovich Timashev. Tổng cộng, trong giai đoạn trước cách mạng (1888-1917), trường đã đào tạo 1.584 bác sĩ và 240 luật sư <ref>Наш город родной. Исторические и памятные места Томска. (Сост. М. И. Чугунов, В. А. Соловьёва). Новосибирск: Западно-Сибирское книжное издательство, 1982. — 216 с., 24 л. ил; с. 115</ref>.


=== Trong Liên bang Xô Viết ===
=== Trong Liên bang Xô Viết ===
Trong Nội chiến, nhiều giáo sư từ các trường đại học ở [[Thành phố Perm|Perm]] và [[Thành phố Kazan|Kazan]] đã được sơ tán đến Tomsk và làm việc tại Đại học Quốc gia Tomsk [ 19 ] . Năm 1920, Khoa Luật được tổ chức lại thành Khoa Xã hội học [ 10 ] , sau đó Khoa Lịch sử và Ngữ văn mở vào năm 1921. Năm 1922, Khoa Khoa học Xã hội bị đóng cửa và trường không đào tạo các ngành về xã hội và nhân văn cho đến năm 1940 [ 20 ] .
Trong Nội chiến, nhiều giáo sư từ các trường đại học ở [[Thành phố Perm|Perm]] và [[Thành phố Kazan|Kazan]] đã được sơ tán đến Tomsk và làm việc tại Đại học Quốc gia Tomsk <ref>[http://history.tsu.ru/node/6243: ИСТОРИЯ ФИПН]</ref>. Năm 1920, Khoa Luật được tổ chức lại thành Khoa Xã hội học, sau đó Khoa Lịch sử và Ngữ văn mở vào năm 1921. Năm 1922, Khoa Khoa học Xã hội bị đóng cửa và trường không đào tạo các ngành về xã hội và nhân văn cho đến năm 1940 <ref>[http://if.tsu.ru/if_history.htm: Краткий очерк истории исторического факультета ТГУ]</ref>.


Vào tháng 7 năm 1931, Khoa Sư phạm của Đại học Quốc gia Tomsk được chuyển đổi thành [[Đại học Sư phạm Quốc gia Tomsk|Học viện Sư phạm Quốc gia Tomsk]] [ 22 ] .
Vào tháng 7 năm 1931, Khoa Sư phạm của Đại học Quốc gia Tomsk được chuyển đổi thành [[Đại học Sư phạm Quốc gia Tomsk|Học viện Sư phạm Quốc gia Tomsk]] <ref>Войтеховская М. П., Галкина Т.В. Томский педагогический: от института к университету. Томск, 2002. — 268 с. — с. 17</ref>.


Trong thời kỳ Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, các hoạt động của Đại học Quốc gia Tomsk đã được cải cách đáng kể. Trong những năm 1944-1955, TSU là một trong những trung tâm nghiên cứu hàng đầu của đất nước về phát triển các hệ thống phòng thủ mới và là đơn vị đi đầu trong việc chứng minh khoa học cho các dự án kinh tế và nông nghiệp toàn cầu của đất nước.
Trong thời kỳ Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, các hoạt động của Đại học Quốc gia Tomsk đã được cải cách đáng kể. Trong những năm 1944-1955, TSU là một trong những trung tâm nghiên cứu hàng đầu của đất nước về phát triển các hệ thống phòng thủ mới và là đơn vị đi đầu trong việc chứng minh khoa học cho các dự án kinh tế và nông nghiệp toàn cầu của đất nước.


Ngày 7 tháng 1 năm 1967, Đại học Quốc gia Tomsk được trao tặng Huân chương Cờ đỏ Lao động theo Sắc lệnh của Đoàn chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô vì những đóng góp của trường trong việc phát triển khoa học và đào tạo chuyên gia [ 16 ] , và ngày 8 tháng 9 năm 1980 , Huân chương Cách mạng Tháng Mười vì những đóng góp to lớn của trường trong việc đào tạo chuyên gia có trình độ cao cho nền kinh tế quốc dân, phát triển khoa học và hướng đến đến kỷ niệm 100 năm thành lập trường [ 16 ] .
Ngày 7 tháng 1 năm 1967, Đại học Quốc gia Tomsk được trao tặng Huân chương Cờ đỏ Lao động theo Sắc lệnh của Đoàn chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô vì những đóng góp của trường trong việc phát triển khoa học và đào tạo chuyên gia, và ngày 8 tháng 9 năm 1980, Huân chương Cách mạng Tháng Mười vì những đóng góp to lớn của trường trong việc đào tạo chuyên gia có trình độ cao cho nền kinh tế quốc dân, phát triển khoa học và hướng đến đến kỷ niệm 100 năm thành lập trường.


=== Trong Liên bang Nga ===
=== Trong Liên bang Nga ===
Năm 1995, Khoa Văn hóa và Khoa Ngoại ngữ là 2 khoa đầu tiên của trường được lập trong giai đoạn hậu Liên Xô [ 34 ] [ 35 ] .
[[Tập tin:Đại học Quốc gia Tomsk.jpg|nhỏ|500x500px]]
Năm 1995, Khoa Văn hóa và Khoa Ngoại ngữ là 2 khoa đầu tiên của trường được lập trong giai đoạn hậu Liên Xô <ref>[https://iik.tsu.ru/ru/content/%D0%BE%D0%B1-%D0%B8%D0%BD%D1%81%D1%82%D0%B8%D1%82%D1%83%D1%82%D0%B5: Об институте]</ref> <ref>[https://flf.tsu.ru/node/7: ИСТОРИЯ ФАКУЛЬТЕТА]</ref>.


Theo Sắc lệnh số 30 ngày 15 tháng 1 năm 1998 của Tổng thống Liên bang Nga, Đại học Quốc gia Tomsk được đưa vào Danh mục quốc gia về Di sản văn hóa đặc biệt có giá trị của Nhân dân Liên bang Nga [ 36 ] .
Theo Sắc lệnh số 30 ngày 15 tháng 1 năm 1998 của Tổng thống Liên bang Nga, Đại học Quốc gia Tomsk được đưa vào Danh mục quốc gia về Di sản văn hóa đặc biệt có giá trị của Nhân dân Liên bang Nga <ref>[http://www.kremlin.ru/acts/bank/11880: Указ Президента Российской Федерации от 15.01.1998 г. № 30]</ref>.


Theo Sắc lệnh của Chính phủ Liên bang Nga ngày 9 tháng 3 năm 2006 số 306-r, Đại học Quốc gia Tomsk được tái cấu trúc thông qua sáp nhập nhiều cơ sở giáo dục khác tại địa phương.
Theo Sắc lệnh của Chính phủ Liên bang Nga ngày 9 tháng 3 năm 2006 số 306-r, Đại học Quốc gia Tomsk được tái cấu trúc thông qua sáp nhập nhiều cơ sở giáo dục khác tại địa phương.


Vào ngày 16 tháng 2 năm 2007, Cyberia SKIF [ 41 ] đã được lắp đặt tại Đại học Quốc gia Tomsk, là siêu máy tính mạnh nhất vào thời điểm đó ở các nước SNG và Đông Âu (nếu không tính phần lãnh thổ Nga ở phía Tây dãy Ural) [ 42 ] .
Vào ngày 16 tháng 2 năm 2007, Cyberia SKIF<ref>[https://web.archive.org/web/20070217170044/http://tv2.tomsk.ru/: Телекомпания ТВ2]</ref> đã được lắp đặt tại Đại học Quốc gia Tomsk, là siêu máy tính mạnh nhất vào thời điểm đó ở các nước SNG và Đông Âu (nếu không tính phần lãnh thổ Nga ở phía Tây dãy Ural) <ref>[https://obzor.city/news/162665: Суперкомпьютеры в вузах РФ должны быть отечественными - Грызлов]</ref>.


Là một phần của quá trình chuyển đổi giáo dục đại học ở Nga và việc giới thiệu hệ thống các trường đại học hàng đầu, Đại học Quốc gia Tomsk vào ngày 27 tháng 4 năm 2010 đã nhận được quy chế trở thành [[Đại học Nghiên cứu Quốc gia|Đại học Nghiên cứu Quốc gia]] (NRU) [ 43 ] và cơ hội làm việc với các nhà khoa học xuất sắc từ khắp nơi trên thế giới.
Là một phần của quá trình chuyển đổi giáo dục đại học ở Nga và việc giới thiệu hệ thống các trường đại học hàng đầu, Đại học Quốc gia Tomsk vào ngày 27 tháng 4 năm 2010 đã nhận được quy chế trở thành [[Đại học Nghiên cứu Quốc gia|Đại học Nghiên cứu Quốc gia]] (NRU)<ref>[https://obzor.city/news/322052: ТГУ получил статус "Национального исследовательского университета]</ref> và cơ hội làm việc với các nhà khoa học xuất sắc từ khắp nơi trên thế giới.


Từ năm 2013, Đại học Quốc gia Tomsk đã tham gia Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường đại học hàng đầu của Nga giữa các trung tâm khoa học và giáo dục hàng đầu thế giới [ 44 ] .
Từ năm 2013, Đại học Quốc gia Tomsk đã tham gia Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường đại học hàng đầu của Nga giữa các trung tâm khoa học và giáo dục hàng đầu thế giới <ref>[https://www.kommersant.ru/doc/2229717: Три сибирских университета получат субсидии на продвижение в рейтингах]</ref>.


Tính đến tháng 5 năm 2019, TSU bao gồm 15 khoa và năm viện [ 37 ] , với 23 nghìn sinh viên, 800 nghiên cứu sinh sau đại học và tiến sĩ , trong đó hơn 2200 là sinh viên quốc tế [ 38 ] đến từ 39 quốc gia.  
Tính đến tháng 5 năm 2019, TSU bao gồm 15 khoa và năm viện <ref>[http://www.tsu.ru/education/faculties/: Факультеты и институты]</ref> với 23 nghìn sinh viên, 800 nghiên cứu sinh sau đại học và tiến sĩ , trong đó hơn 2200 là sinh viên quốc tế đến từ 39 quốc gia <ref>[https://www.topuniversities.com/universities/tomsk-state-university: Tomsk State University]</ref>.  


Hơn 100 Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Viện Hàn lâm Khoa học Y khoa Nga và các Viện hàn lâm khoa học của các quốc gia khác, hơn 250 người đoạt Giải thưởng quốc gia và 3 người đoạt Giải Nobel đã học và làm việc tại TSU [ 40 ] .  
Hơn 100 Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Viện Hàn lâm Khoa học Y khoa Nga và các Viện hàn lâm khoa học của các quốc gia khác, hơn 250 người đoạt Giải thưởng quốc gia và 3 người đoạt Giải Nobel đã học và làm việc tại TSU <ref>[http://www.almamater.tsu.ru/show_story.phtml?nom=2308&s=209: Нобелевские лауреаты в ТГУ.] ''Alma Mater''</ref>.  


Về cơ sở vật chất, niềm tự hào của trường đại học là Thư viện Khoa học (3,7 triệu bản [ 39 ] , bảo tàng sách quý) và Vườn Bách thảo Siberia .
Về cơ sở vật chất, niềm tự hào của trường đại học là Thư viện Khoa học với hơn 3,7 triệu bản <ref>[https://www.lib.tsu.ru/ru/o-biblioteke/kollekcii: Коллекции Научной библиотеки Томского государственного университета]</ref>, các bảo tàng sách quý và Vườn Bách thảo Siberia.


== Uy tín và Xếp hạng ==
== Uy tín và Xếp hạng ==
Năm 2014, «Эксперт РА» đã xếp hạng Đại học Quốc gia Tomsk ở mức “B”, nghĩa là trình độ đào tạo của sinh viên tốt nghiệp ở mức rất cao. Trường đại học duy nhất ở SNG được xếp loại “A” (đặc biệt cao) trong bảng xếp hạng này là [[Đại học Quốc gia Moscow|Đại học Quốc gia Moscow]] [ 49 ] .
Năm 2014, «Эксперт РА» đã xếp hạng Đại học Quốc gia Tomsk ở mức “B”, nghĩa là trình độ đào tạo của sinh viên tốt nghiệp ở mức rất cao. Trường đại học duy nhất ở SNG được xếp loại “A” (đặc biệt cao) trong bảng xếp hạng này là [[Đại học Quốc gia Moscow|Đại học Quốc gia Moscow]].


Năm 2020, Quacquarelli Symonds đã công bố QS World University Ranking 2021, một trong những bảng xếp hạng có uy tín nhất trong cộng đồng học thuật. Đại học Quốc gia Tomsk lọt vào TOP-300 trường đại học tốt nhất thế giới, đứng ở vị trí thứ 250 [ 50 ] và trở thành trường đại học thứ tư của [[:Thể loại:Đất nước Nga|Liên bang Nga]] góp mặt trong bảng xếp hạng này [ 51 ] .  
Năm 2020, Quacquarelli Symonds đã công bố QS World University Ranking 2021, một trong những bảng xếp hạng có uy tín nhất trong cộng đồng học thuật. Đại học Quốc gia Tomsk lọt vào TOP-300 trường đại học tốt nhất thế giới, đứng ở vị trí thứ 250 <ref>[https://www.topuniversities.com/university-rankings/world-university-rankings/2021: QS World University Rankings 2021]</ref> và trở thành trường đại học thứ tư của [[:Thể loại:Đất nước Nga|Liên bang Nga]] góp mặt trong bảng xếp hạng này.  


Cũng trong năm 2020, theo ấn phẩm Times Higher Education (THE) , Đại học Quốc gia Tomsk xếp trong nhóm 501–600 [ 52 ] trường đại học hàng đầu thế giới, và đạt vị trí thứ 103 trong danh sách các trường đại học có tính quốc tế hóa cao nhất thế giới, trở thành trường đại học đầu tiên của Nga được xếp trong bảng xếp hạng này [ 53 ] .
Cũng trong năm 2020, theo ấn phẩm Times Higher Education (THE) , Đại học Quốc gia Tomsk xếp trong nhóm 501–600 <ref>[https://www.timeshighereducation.com/world-university-rankings/2020/world-ranking: World University Rankings]</ref> trường đại học hàng đầu thế giới, và đạt vị trí thứ 103 trong danh sách các trường đại học có tính quốc tế hóa cao nhất thế giới, trở thành trường đại học đầu tiên của Nga được xếp trong bảng xếp hạng này <ref>[https://www.timeshighereducation.com/student/best-universities/most-international-universities-world: Most international universities in the world]</ref>.


Năm 2022, Đại học Quốc gia Tomsk lọt vào Bảng xếp hạng quốc tế “ Ba sứ mệnh của trường đại học ”, đạt vị trí thứ 196 [ 54 ] . Cùng năm, trường đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng RAEX về "100 trường đại học tốt nhất tại Nga" [ 55 ] và đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng về tầm ảnh hưởng của các trường đại học tại Nga [ 56 ] . Trong bảng xếp hạng chuyên ngành RAEX, trường được đưa vào danh sách các trường đại học tốt nhất trong 17 lĩnh vực nghiên cứu [ 57 ] .
Năm 2022, Đại học Quốc gia Tomsk lọt vào Bảng xếp hạng quốc tế “ Ba sứ mệnh của trường đại học ”, đạt vị trí thứ 196<ref>[https://mosiur.org/ranking/: Рейтинг Три Миссии Университетов, 2022]</ref> . Cùng năm, trường đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng RAEX về "100 trường đại học tốt nhất tại Nga"<ref>[https://raex-rr.com/pro/education/russian_universities/top-100_universities/2022/: Рейтинг лучших вузов России RAEX-100, 2022 год]</ref> và đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng về tầm ảnh hưởng của các trường đại học tại Nga<ref>[https://raex-rr.com/education/universities/ranking_of_influential_universities: Названы самые влиятельные вузы России]</ref> . Trong bảng xếp hạng chuyên ngành RAEX, trường được đưa vào danh sách các trường đại học tốt nhất trong 17 lĩnh vực nghiên cứu <ref>[https://raex-rr.com/database/contender/10006455: Томский государственный университет]</ref>.


== Hoạt động giáo dục ==
== Hoạt động giáo dục ==
Theo '''Luật Liên bang Số 259-ФЗ ngày 10/11/2009''', Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov được trao quyền thực hiện các chương trình giáo dục đại học được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn giáo dục do trường tự thiết lập. Ngoài ra, theo luật này, Đại học Quốc gia Moscow được quyền cấp cho những người đã hoàn thành chương trình đào tạo tại các chương trình giáo dục do trường đại học thực hiện các văn bằng giáo dục có ký hiệu chính thức của Liên bang Nga, được chứng nhận bằng con dấu của Đại học Quốc gia Moscow, mẫu văn bằng này do chính trường chấp thuận. Các văn bản giáo dục do Đại học Quốc gia Moscow cấp theo luật định cung cấp cho người sở hữu các văn bản này những quyền tương tự như những quyền được cung cấp cho người sở hữu các văn bản giáo dục do các trường đại học công lập của Liên bang Nga cấp <ref>[http://www.kremlin.ru/acts/bank/30100: Федеральный закон от 10.11.2009 г. № 259-ФЗ.] Сайт Президента России (10 ноября 2009)</ref>.
=== Ấn bản khoa học ===
<div style="column-count: 2; -moz-column-count: 2; -webkit-column-count: 2;">
* Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Tomsk <ref>[http://vestnik.tsu.ru/: Вестник Томского государственного университета]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Triết học. Xã hội học. Chính trị học <ref>[https://web.archive.org/web/20111013221406/http://vestnik.tsu.ru/philosophy/: Вестник Томского государственного университета. Философия. Социология. Политология]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Sinh học <ref>[https://web.archive.org/web/20111013220130/http://vestnik.tsu.ru/biology/: Вестник Томского государственного университета. Биология]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Lịch sử <ref>[https://web.archive.org/web/20111013221011/http://vestnik.tsu.ru/history/: Вестник Томского государственного университета. История]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Toán học. học <ref>[https://web.archive.org/web/20111013220754/http://vestnik.tsu.ru/mathematics/: Вестник Томского государственного университета. Математика и механика]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Điều khiển. Khoa học và kỹ thuật máy tính <ref>[https://web.archive.org/web/20111013215915/http://vestnik.tsu.ru/informatics/: Вестник Томского государственного университета. Управление. Вычислительная техника и информатика]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Ngữ văn <ref>[https://web.archive.org/web/20120330010209/http://vestnik.tsu.ru/philology/: Вестник Томского государственного университета. Филология]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Kinh tế <ref>[https://web.archive.org/web/20111216123344/http://www.vestnik.tsu.ru/economy/: Вестник Томского государственного университета. Экономика]</ref>
* Tạp chí khoa học TSU. Văn hóa và lịch sử nghệ thuật <ref>[https://web.archive.org/web/20111109060824/http://vestnik.tsu.ru/culture/: Вестник Томского государственного университета. Культурология и искусствоведение]</ref>
* Tạp chí Toán rời rạc ứng dụng <ref>[https://web.archive.org/web/20111013221628/http://vestnik.tsu.ru/pdm/: Прикладная дискретная математика]</ref>
* Tạp chí Ngôn ngữ và Văn hóa (do Khoa Ngoại ngữ xuất bản hàng quý).
</div>


Từ năm 2011, Đại học Quốc gia Moscow đã triển khai chương trình đào tạo tích hợp kéo dài 6 năm. Các hình thức đào tạo chính tại Đại học Quốc gia Moscow [[:Thể loại:Chương trình Chuyên gia|chuyên gia]], [[:Thể loại:Chương trình Thạc sĩ|thạc sĩ]] và [[:Thể loại:Chương trình Cử nhân|cử nhân]]. Chương trình của MGU khác với các chương trình của các cơ sở giáo dục đại học khác của Nga, từ năm 2011 đã chuyển sang đào tạo theo các nguyên tắc của Công ước Bologna, trong đó bao gồm việc chia thành các chương trình cấp bằng cử nhân và thạc sĩ. Các trường đại học Nga đào tạo bằng cử nhân trong bốn năm và bằng thạc sĩ trong hai năm. Các chuyên gia đã đánh giá những quyết định này của Đại học Quốc gia Moscow một cách mơ hồ <ref>[https://www.bbc.co.uk/russian/russia/2010/09/100929_moscow_university_six_years.shtml: В МГУ будут обучать студентов в течение шести лет]</ref>.
=== Hợp tác quốc tế ===
 
Đại học Quốc gia Tomsk là thành viên của UArctic<ref>[https://www.uarctic.org/members/member-profiles/: Members.] UArctic</ref> , mạng lưới hợp tác quốc tế bao gồm các trường đại học có cơ sở đào tạo trong vành đai Bắc Cực, bao gồm hơn 200 trường đại học và các tổ chức khác có mối quan tâm trong việc thúc đẩy giáo dục và nghiên cứu tại khu vực Bắc Cực <ref>[https://www.uarctic.org/about-us/: About Us.] UArctic</ref>. Sự hợp tác đã bị tạm dừng sau Chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga <ref>[https://www.uarctic.org/about-us/shared-voices-magazine/shared-voices-2022/: Shared Voices 2022.] UArctic</ref>.
Là một phần của chương trình phát triển mới của Đại học Quốc gia Moscow (2020-2030), người ta có kế hoạch thành lập 7 trường khoa học và giáo dục để tập hợp các nhóm nhà khoa học từ các khoa khác nhau <ref>[https://tass.ru/obschestvo/9650189: В МГУ появятся семь научных школ.] ТАСС (7 октября 2020)</ref>:
 
* Không gian;
* Bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử thế giới;
* Hệ thống thần kinh, hệ thống nhận thức, trí tuệ nhân tạo;
* Phương pháp toán học phân tích các hệ thống phức tạp;
* Công nghệ phân tử của hệ thống sống và sinh học tổng hợp;
* Công nghệ quang tử và lượng tử. Y học kỹ thuật số;
* Tương lai của hành tinh: Giám sát môi trường toàn cầu.
 
Các trường khoa học bắt đầu đào tạo cán bộ và tiến hành nghiên cứu khoa học từ năm 2021.
 
=== Các khóa học liên khoa ===
 
Khóa đào tạo liên khoa của Đại học Quốc gia Moscow ('''''Межфакультетский учебный курс МГУ - МФК МГУ''''') — khóa học kéo dài một học kỳ do các giáo viên của Đại học Moscow là chuyên gia trong lĩnh vực của họ giảng dạy. Mục đích của các khóa học là mô tả mối quan hệ giữa các lĩnh vực kiến ​​thức khác nhau: khoa học, nghệ thuật, chính trị, văn hóa, quá trình xã hội và công cộng. Các nhà khoa học hàng đầu trong và ngoài nước không phải là cán bộ của trường đại học được mời đến giảng bài. Việc thành thạo МФК là một phần không thể thiếu trong quá trình đào tạo sinh viên MGU và việc hoàn thành nó là bắt buộc <ref>Для студентов очной формы обучения третьих и четвёртых курсов, обучающихся по программам специалитета, третьего курса бакалавриата и первого курса магистратуры.</ref>. Thông tin về các МФК mà sinh viên đã hoàn thành được đưa vào phần bổ sung bằng tốt nghiệp <ref>[http://mfk.msu.ru/: Межфакультетские учебные курсы Московского государственного университета имени М. В. Ломоносова]</ref>.


== Cấu trúc ==
== Cấu trúc ==
Dòng 241: Dòng 240:
|}
|}


=== Trường đại học ===
=== Chi nhánh và đơn vị trực thuộc trường ===
Các trường đại học thành viên có chức năng và quyền hạn ngang với các khoa của Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov.
* Viện Luật Novosibirsk (chi nhánh) của Đại học Quốc gia Tomsk
* Viện Vật lý và Công nghệ Siberia
* Viện nghiên cứu Toán ứng dụng và Cơ học
* Viện nghiên cứu Sinh học và Vật lý Sinh học
* Vườn Bách thảo Siberia
* Thư viện khoa học


* '''Trường đại học Kinh doanh''', '''''ВШБ МГУ'''''. Đào tạo sinh viên bậc cử nhân, thạc sĩ, MBA MBA điều hành trong lĩnh vực Quản . Thành lập năm 2001.
=== Bảo tàng ===
* Bảo tàng Lịch sử TSU (1984, mở cửa trở lại năm 2002)
* Vườn bách thảo Siberia (1880)
* Bảo tàng Khảo cổ học và Dân tộc học Siberia mang tên Florinsky (1882)
* Bảo tàng Động vật học (1885)
* Bảo tàng Thực vật học mang tên Krylov (1885)
* Bảo tàng Cổ sinh vật học mang tên Khakhlov<ref>[http://www.tsu.ru/university/museums/plmuseum.php: Палеонтологический музей имени В. А. Хахлова]</ref> (1888)
* Bảo tàng Khoáng vật học mang tên Bazhenov (1888)
* Phòng Bản thảo Di tích Sách của Thư viện Quốc gia TSU (1944)
* Bảo tàng Lịch sử Vật (1985)
* Bảo tàng Sách của Thư viện Khoa học TSU (2005)


* '''Trường đại học Kinh tế Moscow''', '''''МШЭ МГУ'''''. Đào tạo cử nhân ngành Kinh tế, thạc sĩ các chuyên ngành “Lý thuyết kinh tế và các vấn đề của nước Nga hiện đại” và “Chiến lược kinh tế và tài chính”. Thành lập năm 2004.
== Giáo sư đạt giải Nobel ==
* '''Ivan Petrovich Pavlov''' - Nobel Sinh lý học và Y khoa năm 1904
* '''Nikolay Nikolayevich Semyonov''' - Nobel Hóa học năm 1956


* '''Trường đại học Quản trị Nhà nước''', '''''ВШГА МГУ'''''. Đào tạo cán bộ chuyên môn cho lĩnh vực hành chính nhà nước. Thành lập năm 2005.
== Cựu sinh viên Việt Nam nổi bật ==
 
* '''Hoàng Thị Hồng Trang''' ''tốt nghiệp năm 2018'', là tiến sĩ người Việt đầu tiên tốt nghiệp Đại học Quốc gia Tomsk <ref>[https://en-news.tsu.ru/news/a-postgraduate-student-from-vietnam-defended-her-thesis-at-tsu/: A postgraduate student from Vietnam defended her thesis at TSU]</ref>. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, chị trở về công tác tại Khoa Tiếng Nga, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh <ref>[https://doanthanhnien.vn/tin-tuc/guong-sang/nu-tien-si-2-lan-duoc-vinh-danh: Nữ tiến sĩ 2 lần được vinh danh]</ref>.
* '''Trường đại học Biên dịch''', '''''ВШП МГУ'''''. Đào tạo chuyên gia biên dịch chuyên nghiệp, thành thạo công nghệ biên dịch hiện đại.
 
* '''Trường đại học Kiểm toán Nhà nước''', '''''ВШГА МГУ'''''. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực tài chính công, kiểm soát tài chính ở cấp liên bang, khu vực và địa phương, cũng như kiểm toán nội bộ và tổ chức kiểm toán.
 
* '''Trường đại học Truyền hình''', '''''ВШТ МГУ'''''. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực truyền hình và báo chí: phóng viên, người dẫn chương trình, nhà sản xuất, đạo diễn, biên kịch, biên tập viên, phóng viên ảnh, nhà phê bình truyền hình. Thành lập năm 2006.
 
* '''Trường đại học Khoa học Xã hội Đương đại''', '''''ВШССН МГУ'''''. Đào tạo chuyên gia trong các lĩnh vực xã hội học, kinh tế tri thức, quản lý và kiểm soát xã hội, triết học xã hội và văn hóa học. Thành lập năm 2006.
 
* '''Trường đại học Quản trị và Đổi mới'''. Đào tạo kỹ sư thiết kế, chuyên gia công nghệ, tổ chức sản xuất, quản lý dự án khoa học-công nghệ cao. Thành lập năm 2006.
 
* '''Trường đại học Kinh doanh Đổi mới'''. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thăm dò, khai thác và chế biến tài nguyên hydrocacbon, quản lý tài nguyên thiên nhiên. Thành lập năm 2006.
 
* '''Trường đại học Chính sách Văn hóa và Quản lý trong lĩnh vực Nhân văn''', '''''ВШКПиУГС МГУ'''''. Đào tạo chuyên gia quản lý, sản xuất và lãnh đạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và thể thao. Thành lập năm 2011.
 
=== Trung tâm ===
* '''Khoa dự bị MGU''' được thành lập vào năm 1969 nhằm nâng cao trình độ giáo dục chung cho những thanh niên cần được bảo trợ và hỗ trợ của nhà nước trước khi học đại học.
* '''Trung tâm khoa học và giáo dục chuyên môn MGU''', '''''СУНЦ МГУ''''' được thành lập năm 1988 trên cơ sở trường nội trú Kolmogorov  <ref>Учреждение носило название «Специализированная школа-интернат № 18 физико-математического профиля при Московском государственном университете им. М. В. Ломоносова» или ФМШ-18 (1963—1988).</ref> <ref>[http://pms.ru/postanovlenie_soveta_ministrov/1083.html: Постановление Совета Министров СССР № 1241 от 21.10.1988]</ref>, đào tạo lớp 10 và lớp 11.
* '''Trường chuyên nội trú''' '''''УГ МГУ''''' là trường nội trú, một đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Moscow, được thành lập vào ngày 1 tháng 9 năm 2016. Chương trình đào tạo tại trường được chia thành 5 hướng chuyên: toán học, kỹ thuật, khoa học tự nhiên, nhân văn và kinh tế xã hội.
* '''Trường Sau đại học Pháp''', '''''Французский университетский колледж''''' là một cơ sở giáo dục đại học nhà nước được thành lập năm 1991 tại Đại học Quốc gia Moscow <ref>[https://www.vesti.ru/video/2073259: Французский колледж при МГУ: наука и культура вопреки политике]</ref>. Khóa học kéo dài hai năm tại trường cao đẳng cung cấp cơ hội để lấy bằng kép, được công nhận tại Pháp, tương đương với việc hoàn thành một năm bằng thạc sĩ <ref>[https://yandexwebcache.net/yandbtm?lang=ru&fmode=inject&tm=1608023207&tld=ru&la=1605890048&text=%D0%A4%D1%80%D0%B0%D0%BD%D1%86%D1%83%D0%B7%D1%81%D0%BA%D0%B8%D0%B9%20%D1%83%D0%BD%D0%B8%D0%B2%D0%B5%D1%80%D1%81%D0%B8%D1%82%D0%B5%D1%82%D1%81%D0%BA%D0%B8%D0%B9%20%D0%BA%D0%BE%D0%BB%D0%BB%D0%B5%D0%B4%D0%B6%20%D0%BF%D1%80%D0%B0%D0%B7%D0%B4%D0%BD%D1%83%D0%B5%D1%82%20%D1%8E%D0%B1%D0%B8%D0%BB%D0%B5%D0%B9&url=https%3A%2F%2Ftvkultura.ru%2Farticle%2Fshow%2Farticle_id%2F8896%2F&l10n=ru&mime=html&sign=77136ec43e858d7d043e1a39f6cc36b3&keyno=0: Французский университетский колледж отметил юбилей]</ref> trong một trong các ngành nhân văn sau: luật, lịch sử, xã hội học, văn học và triết học <ref>[http://www.moscuf.org/ru/o-kolledzhe: Французский университетский колледж МГУ]</ref>. Năm 2016, Đại học Pháp tại Moscow đã kỷ niệm 25 năm thành lập <ref>[https://www.vesti.ru/article/1640690: Французский университетский колледж отметил 25-й юбилей]</ref>.
 
=== Viện nghiên cứu ===
* Viện Nghiên cứu Khoa học Vật lý Hạt nhân mang tên Skobeltsyn
* Viện Cơ học
* Viện Thiên văn Nhà nước mang tên Shternberg
* Viện Nghiên cứu Khoa học Sinh học Lý-Hóa mang tên Belozersky
* Trung tâm Máy tính Nghiên cứu Khoa học
* Viện Các vấn đề lý thuyết của thế giới vi mô mang tên Bogolyubov
* Viện Nghiên cứu Toán học các Hệ thống phức tạp
* Viện Nghiên cứu và Bảo tàng Nhân học mang tên Anuchin
* Viện Sinh thái học Thổ nhưỡng
* Viện Văn hóa Thế giới
* Viện Khoa học và Văn hóa Nga-Đức
* Viện Các vấn đề về An ninh Thông tin
* Viện Vật lý Lý thuyết và Toán học
* Viện Bồi dưỡng và Tái đào tạo Giảng viên Khoa học Xã hội và Nhân văn
 
=== Chi nhánh ===
Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov có nhiều chi nhánh tại các nước SNG. Ngoài ra, kể từ năm 2015, một trường đại học liên kết Университет МГУ-ППИ đã hoạt động tại Thâm Quyến, Trung Quốc, được thành lập trên cơ sở MGU của Nga và PPI của Trung Quốc (đây không phải là một chi nhánh chính thức).
 
Năm 2024, cơ sở duy nhất của trường đại học này tại Slovenia, đặt tại thành phố Koper, được mở vào năm 2017, đã bị đóng cửa. Như hiệu trưởng trường đại học Sadovnichy đã tuyên bố, chi nhánh đã bị đóng cửa theo chỉ đạo ​​của chính phủ Slovenia <ref>[https://www.kommersant.ru/doc/7230238: В Словении закрыли единственный европейский филиал МГУ]</ref> <ref>[https://www.vedomosti.ru/society/news/2024/10/12/1068284-rektor-mgu-soobschil: Ректор МГУ сообщил о закрытии филиала вуза в Словении]</ref>.
 
* Chi nhánh tại '''[[Thành phố Sevastopol|Sevastopol]]''', được thành lập năm 1999 .
* Chi nhánh tại '''Astana''' ( Kazakhstan ), được thành lập năm 2000 .
* Chi nhánh tại '''Tashkent''' ( Uzbekistan ), được thành lập năm 2006 .
* Chi nhánh tại '''Baku''' ( Azerbaijan ), được thành lập năm 2008 .
* Chi nhánh tại '''Dushanbe''' ( Tajikistan ), được thành lập năm 2009 .
* Chi nhánh tại '''Yerevan''' ( Armenia ), được thành lập vào năm 2015 .
* Chi nhánh tại '''[[Thành phố Sarov|Sarov]]''', thành lập năm 2021 .
* Chi nhánh tại '''[[Thành phố Grozny|Grozny]]''', được thành lập vào năm 2023.
 
=== Trường khoa học và giáo dục liên ngành ===
Năm 2020, 7 '''trường khoa học và giáo dục thường trực''', '''''НОШ МГУ''''' đã được thành lập tại Đại học Tổng hợp Lomonosov Moscow như một phần của chương trình phát triển đại học <ref>[https://tass.ru/obschestvo/9650189: В МГУ появятся семь научных школ]</ref> <ref>[https://rg.ru/2020/10/07/reg-cfo/v-mgu-poiaviatsia-7-novyh-nauchno-obrazovatelnyh-shkol.html: В МГУ появятся 7 новых научно-образовательных школ]</ref>.
 
Nguyên tắc chính của việc thành lập các trường này là tổ chức công tác khoa học ở cấp độ liên ngành, tại giao điểm của các ngành khoa học khác nhau. Các trường có hai nhiệm vụ chính: nghiên cứu khoa học từ cơ bản đến hiện đại và đào tạo cán bộ.
 
Các hoạt động khoa học và giáo dục của các trường khoa học và giáo dục của trường đại học dựa trên hai đòn bẩy chính: tính cơ bản và tính liên ngành.
 
* '''Trường ''Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng về không gian''''' đào tạo chuyên gia và thực hiện nghiên cứu về: vật chất tối, lý thuyết hấp dẫn, an toàn không gian gần Trái Đất, khám phá và khai phá không gian (như Mặt Trăng).
* '''Trường ''Bảo tồn di sản văn hóa – lịch sử thế giới''''' bảo tồn các giá trị nhân văn trong bối cảnh vai trò ngày càng tăng của trí tuệ nhân tạo.
* '''Trường ''Hệ thống thần kinh, hệ thống nhận thức và trí tuệ nhân tạo''''' tập trung vào các nghiên cứu nền tảng về hoạt động của bộ não, hệ thống nhận thức và phát triển trí tuệ nhân tạo. Đồng thời thu hút nhân tài trẻ và đào tạo chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực AI.
* '''Trường ''Công nghệ phân tử của hệ sinh học và sinh học tổng hợp'''''  thực hiện nghiên cứu về công nghệ phân tử và ứng dụng vào thực tiễn.
* '''Trường ''Các phương pháp toán học trong phân tích hệ thống phức tạp'''''  nghiên cứu các hệ thống phức tạp trong xã hội – tự nhiên thời kỳ chuyển đổi số và phát triển hệ thống ngữ nghĩa cho các ngành khoa học cơ bản.
* '''Trường ''Công nghệ lượng tử, quang học và y học số''''' nghiên cứu liên ngành về cảm biến lượng tử, truyền thông lượng tử, y học số, vật lý y học bức xạ và quang học sinh học.
* '''Trường ''Tương lai của Trái Đất và biến đổi môi trường toàn cầu'''''  hướng đến các vấn đề toàn cầu: biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm, khan hiếm nước, cạn kiệt tài nguyên.
 
== Khuôn viên ==
[[Tập tin:Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov.jpg|nhỏ|500x500px]]
=== Tòa nhà chính ===
Tòa nhà chính của Đại học Quốc gia Moscow, '''''Главное здание МГУ - ГЗ МГУ''''', trong các tài liệu chính thức đôi khi được gọi là '''''Главным корпусом МГУ''''', là tòa nhà trung tâm của khu phức hợp trường đại học thuộc trên Đồi Chim sẻ ('''''Воробьёвых горах'''''). Tòa nhà chọc trời cao nhất trong Bảy tòa nhà được xây dựng theo phong cách Stalin ('''''Сталинских высоток'''''). Chiều cao: 183,2 mét (nếu tỉnh cả đỉnh tháp là 235 mét <ref>Янковский Р. М. Высотка номер один: история и архитектура Главного здания МГУ. — М.: Бомбора, 2021. — 184 с. — 1500 экз. — ISBN 978-5-04-116390-7, с. 109.</ref>), số tầng ở tòa nhà trung tâm: 32 tầng <ref>[http://www.sovarch.ru/57/: Сталинские высотные здания]</ref> <ref>''Николай Кружков'' [http://www.mmforce.net/msu/heart/articles/1518/: Из истории московских небоскребов. Все московские высотки были заложены в один день.] Главному зданию МГУ – 50 лет</ref>. Chiều cao của chân đế so với mực nước biển là 194m <ref>[http://www.geogr.msu.ru/science/aero/acenter/atlas/34-35.htm: Главное здание Московского университета.] Географический факультет МГУ имени М. В. Ломоносова</ref>.
Được xây dựng vào năm 1949-1953 theo thiết kế của các kiến ​​trúc sư Boris Iofan, Lev Rudnev, Sergei Chernyshev, Pavel Abrasimov, Alexander Khryakov và kỹ sư Vsevolod Nasonov. Xưởng của Vera Mukhina phụ trách trang trí điêu khắc cho mặt tiền. Cho đến những năm 1990, tòa nhà này là tòa nhà cao nhất châu Âu <ref>[http://countrymoscow.ru/stalinskie-visotki/stalinskie-visotki-glavnoe-zdanie-moskovskogo-gosudarstvennogo-universiteta.html: Сталинские высотки — Главное здание Московского государственного университета]</ref> <ref>''Филипп Алексенко, Анна Ким.'' [https://www.rbc.ru/photoreport/07/09/2017/59b030489a79477b73cf51c9: Как строились сталинские высотки]</ref>.
 
Phần trung tâm (khu «А») có 36 tầng. Văn phòng hiệu trưởng và các dịch vụ và tổ chức chung của trường đại học, hội đồng thanh niên, các khoa cơ học và toán học , địa lý và địa chất, bảo tàng khoa học trái đất, các phòng thí nghiệm và giảng đường chung của trường đại học, thư viện và các cơ sở phục vụ ăn uống đều tọa lạc tại đây.
 
Từ phần trung tâm, các tòa nhà ký túc xá 18 tầng (khu «Б» và «В») với các tòa tháp cao tới tầng 24 kéo dài. Từ các khu vực này, lần lượt phân ra các khu vực 9 tầng «Г», «Д», «Е» и «Ж», cũng là nơi có nhà trọ và khách sạn. Các tòa tháp liền kề với tòa nhà chính («И», «К», «Л», «М») là nơi có các căn hộ dành cho giáo sư và giáo viên.
 
== Cựu sinh viên nổi tiếng ==
Trong số những sinh viên tốt nghiệp của trường có những người đoạt giải Nobel , giải thưởng Fields và các chính trị gia lớn, bao gồm cả các nhà lãnh đạo quốc gia.
 
=== Những người đoạt giải Nobel Vật lý ===
* Igor Evgenievich Tamm
* Ilya Mikhailovich Frank
* Vitaly Lazarevich Ginzburg
* Alexey Alexeevich Abrikosov
 
=== Những người đoạt giải Nobel Hóa học ===
* Nikolai Nikolaevich Semenov
 
=== Những người đoạt giải Nobel Hòa bình ===
* Andrei Dmitrievich Sakharov
* Mikhail Sergeevich Gorbachev
 
=== Những người đoạt Huy chương Fields ===
* Sergei Petrovich Novikov
* Grigory Aleksandrovich Margulis
* Vladimir Gershonovich Drinfeld
* Maxim Lvovich Kontsevich
* Vladimir Aleksandrovich Voevodsky
* Andrey Yuryevich Okounkov
 
=== Cựu sinh viên Việt Nam nổi bật ===
* '''Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Trang''' ''tốt nghiệp năm 2018'', là tiến sĩ người Việt đầu tiên tốt nghiệp Đại học Quốc gia Tomsk <ref>[https://en-news.tsu.ru/news/a-postgraduate-student-from-vietnam-defended-her-thesis-at-tsu/: A postgraduate student from Vietnam defended her thesis at TSU]</ref>. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, chị trở về công tác tại Khoa Tiếng Nga, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh <ref>[https://doanthanhnien.vn/tin-tuc/guong-sang/nu-tien-si-2-lan-duoc-vinh-danh: Nữ tiến sĩ 2 lần được vinh danh]</ref>.
 
== Giải thưởng và chứng nhận mà Đại học Quốc gia Moscow cấp ==
Giải thưởng cao nhất của Đại học Moscow, '''Giải thưởng Lomonosov''', được thành lập theo Nghị quyết của Hội đồng Dân ủy Liên Xô vào ngày 29 tháng 5 năm 1944; những người đoạt giải đầu tiên đã được trao giải thưởng vào cùng năm đó <ref>[http://www.msu.ru/lomonosov/science/prem.html: Премия имени М. В. Ломоносова]</ref>. Từ năm 1993, Giải thưởng Lomonosov cũng được trao cho các hoạt động giảng dạy.
 
'''Giải thưởng Shuvalov''' là giải thưởng được trao cho các giáo sư, giảng viên và cán bộ nghiên cứu của Đại học Quốc gia Moscow vì công trình khoa học, được thành lập năm 1993 như một phần của chương trình hỗ trợ thanh thiếu niên tài năng.
 
Từ năm 1998 <ref>Решение Учёного Совета МГУ от 7 декабря 1997 года.</ref>, 4 loại danh hiệu danh dự đã được đưa vào hệ thống khuyến khích và giải thưởng tại Đại học Tổng hợp Moscow: '''''Giáo sư danh dự''''', '''''Nghiên cứu viên danh dự''''', '''''Giáo viên danh dự''''' và '''''Nhân viên danh dự''''' <ref>[https://www.msu.ru/upload/pdf/docs/zasl2021.pdf: Положение о присвоении почётных званий МГУ]</ref>.
 
'''Học bổng MGU''' được trao hàng năm cho giáo viên và cán bộ nghiên cứu của MGU dưới 33 tuổi, có bằng cấp học thuật và đạt được thành tích đáng kể trong lĩnh vực giảng dạy và hoạt động nghiên cứu. Những kết quả này cần được phản ánh trong sách giáo khoa, phương tiện giảng dạy, các phát triển về phương pháp giảng dạy, cũng như trong các ấn phẩm trên các tạp chí và ấn phẩm khoa học hàng đầu được bình duyệt .


== Hiệu trưởng ==
== Hiệu trưởng ==
 
<div style="column-count: 3; -moz-column-count: 3; -webkit-column-count: 3;">
=== Giai đoạn 1755–1803 ===
* 1888–1889 Н. А. Гезехус
* 1755–1757 — Alexey Mikhailovich Argamakov 
* 1889-1889 А. С. Догель
* 1757–1763 — Ivan Ivanovich Melissino 
* 1890–1892 В. Н. Великий
* 1763–1770 — Mikhail Matveevich Kheraskov 
* 1892–1894 А. И. Судаков
* 1770–1771 — Anton Antonovich Teil's (quyền giám đốc) 
* 1894–1895 Н. Ф. Кащенко
* 1771–1784 — Mikhail Vasilievich Priklonsky 
* 1895-1895 Н. М. Малиев
* 1784–1796 — Pavel Ivanovich Fonvizin 
* 1895–1903 А. И. Судаков
* 1796–1803 — Ivan Petrovich Turgenev 
* 1903–1906 М. Г. Курлов
 
* 1906–1909 В. В. Сапожников
=== Giai đoạn 1803-1917 ===
* 1909–1913 И. А. Базанов
* 1803–1805 — Khariton Andreevich Chebotaryov 
* 1913–1916 М. Ф. Попов
* 1805–1807 Pyotr Ivanovich Strakhov 
* 1916–1917 И. Н. Грамматикати
* 1807–1808 — Fyodor Grigoryevich Bauze 
* 1917–1918 В. В. Сапожников
* 1808–1819 — Ivan Andreevich Geim 
* 1918–1921 А. П. Поспелов
* 1819–1826 — Anton Antonovich Prokopovich-Antonsky 
* 1921–1922 Б. Л. Богаевский
* 1826–1833 Ivan Alekseevich Dvigubsky 
* 1922-1922 В. Д. Кузнецов
* 1833–1836 Alexey Vasilievich Boldyrev 
* 1922–1929 В. Н. Саввин
* 1837–1842 Mikhail Trofimovich Kachenovsky 
* 1929–1931 Д. В. Горфин
* 1842–1848 Arkady Alekseevich Alfonsky 
* 1931–1932 А. И. Мискинов
* 1848–1850 — Dmitry Matveevich Perevoshchikov 
* 1932–1936 А. Л. Щепотьев
* 1850–1863 — Arkady Alekseevich Alfonsky (lần 2) 
* 1936–1937 Б. П. Токин
* 1863–1870 — Sergey Ivanovich Barshev 
* 1937–1938 М. Г. Журавков
* 1871–1877 — Sergey Mikhailovich Solovyov 
* 1938-1938 И. И. Колюшев
* 1877–1883 — Nikolai Savvich Tikhonravov 
* 1938–1948 Я. Д. Горлачёв
* 1883–1887 — Nikolai Pavlovich Bogolepov 
* 1948–1954 В. Т. Макаров
* 1887–1891 — Gavriil Afanasyevich Ivanov 
* 1954–1960 А. П. Бунтин
* 1891–1893 — Nikolai Pavlovich Bogolepov (lần 2) 
* 1960-1960 В. А. Пегель
* 1893–1898 — Pavel Alekseevich Nekrasov 
* 1961–1967 А. И. Данилов
* 1898-1898 — Nikolai Andreevich Zverev 
* 1967–1983 А. П. Бычков
* 1898–1899 Dmitry Nikolaevich Zernov 
* 1983–1992 Ю. С. Макушкин
* 1899–1904 Alexander Andreevich Tikhomirov 
* 1992–1995 М. К. Свиридов
* 1904–1905 Leonid Kuzmich Lakhtin 
* 1995–2013 Г. В. Майер
* 1905-1905 Sergey Nikolaevich Trubetskoy 
* 2013– nay — Э. В. Галажинский
* 1905–1911 Alexander Apollonovich Manuilov 
</div>
* 1911–1917 Matvey Kuzmich Lyubavsky 
 
=== Giai đoạn 1917-1919 ===
* 1917–1919 Mikhail Aleksandrovich Menzbir 
* 1919-1919 Vladimir Sergeevich Gulevich 
* 1919–1920 Mikhail Mikhailovich Novikov 
 
=== Giai đoạn 1920-1921 ===
* 1920–1921 Dmitry Petrovich Bogolepov 
* 1921-1921 Vyacheslav Petrovich Volgin 
 
=== Giai đoạn 1921-1929 ===
* 1921–1925 Vyacheslav Petrovich Volgin 
* 1925–1928 Andrey Yanuarievich Vyshinsky 
* 1928–1929 Ivan Dmitrievich Udaltsov (quyền hiệu trưởng) 
 
=== Giai đoạn 1929-1939 ===
* 1929–1930 Ivan Dmitrievich Udaltsov 
* 1930–1934 Vasily Nikolaevich Kasatkin 
* 1934-1934 Matvey Georgievich Kadek (quyền giám đốc) 
* 1934–1939 — Alexey Sergeevich Butyagin 
 
=== Giai đoạn 1939-nay ===
* 1939–1941 Alexey Sergeevich Butyagin 
* 1941–1942 Boris Pavlovich Orlov (quyền hiệu trưởng – khu vực Moscow) 
* 1941–1942 Mikhail Mikhailovich Filatov (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad) 
* 1943-1943 Ilya Savvich Galkin (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad và Sverdlovsk) 
* 1943-1943 Alexey Sergeevich Butyagin 
* 1943–1947 Ilya Savvich Galkin 
* 1948–1951 Alexander Nikolaevich Nesmeyanov 
* 1951–1973 Ivan Georgievich Petrovsky 
* 1973–1977 Rem Viktorovich Khokhlov 
* 1977–1992 Anatoly Alekseevich Logunov 
* 1992-nay — Viktor Antonovich Sadovnichy


== Tham khảo ==
== Tham khảo ==
<references />
<references />

Bản mới nhất lúc 18:06, ngày 22 tháng 4 năm 2025

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TOMSK
Национальный исследовательский Томский государственный университет
ТГУ
Tên quốc tế National Research Tomsk State University
Tên viết tắt ТГУ, TGU, TSU
Tên cũ Đại học Hoàng gia Siberia
Đại học Hoàng gia Tomsk
Tiêu ngữ Мудрость миру открывающая
Mens Mundo Aperiens
Trt thức mở ra thế giới
Thành lập 16 (28) Tháng Năm, 1878
Địa chỉ 634050, Томск, пр. Ленина, 36
Website tsu.ru
Sinh viên 16.000 (2025) [1]
Sv đại học
Sv quốc tế 2.000
Thành tích
Huân chương Cách mạng Tháng Mười (Liên Xô)
Huân chương Cờ đỏ Lao động (Liên Xô)

Đại học Nghiên cứu Quốc gia Tomsk (tiếng Nga: Национальный исследовательский Томский государственный университет) [2], một trường đại học ở Tây Siberia, được thành lập vào năm 1878, là trường đại học đầu tiên ở khu vực châu Á của Nga và trên thực tế là trường đại học đầu tiên của Nga ở phía Đông sông Volga. Trường tọa lạc tại thành phố Tomsk. TSU là một trong 29 [3] trường đại học nghiên cứu quốc gia.

Lịch sử

Danh sách tên gọi chính thức trong lịch sử

STT Giai đoạn Tên chính thức Tên tiếng Việt
1 1878-1888 Сибирский Императорский университет Đại học Hoàng gia Siberia
2 1888—1919 Императорский Томский университет Đại học Hoàng gia Tomsk
3 1919—1934 Томский государственный университет (ТГУ) Đại học Quốc gia Tomsk (TSU)
4 1934—1967 Томский государственный университет имени Валериана Владимировича Куйбышева (ТГУ) Đại học Quốc gia Tomsk mang tên Valerian Vladimirovich Kuibyshev (TSU)
5 1967—1980 Томский ордена Трудового Красного Знамени государственный университет имени В. В. Куйбышева (ТГУ) Đại học Quốc gia Tomsk mang tên Kuibyshev (TSU)
6 1980—1991 Томский ордена Октябрьской Революции и ордена Трудового Красного Знамени государственный университет имени В. В. Куйбышева (ТГУ) Đại học Quốc gia Tomsk mang tên Kuibyshev với Huân chương Cách mạng Tháng Mười và Huân chương Cờ đỏ Lao động (TSU) [4]
7 1991-2002 Томский государственный университет Đại học Quốc gia Tomsk
8 2002—2011 Государственное образовательное учреждение высшего профессионального образования «Томский государственный университет» (ТГУ) Đại học Quốc gia Tomsk (TSU)
9 2011—2014 Федеральное государственное бюджетное образовательное учреждение высшего профессионального образования «Национальный исследовательский Томский государственный университет» (ТГУ или НИ ТГУ) Đại học Nghiên cứu Quốc gia Tomsk (TSU hoặc NI TSU)
10 Từ 2014 Федеральное государственное автономное образовательное учреждение высшего образования «Национальный исследовательский Томский государственный университет» Đại học Nghiên cứu Quốc gia Tomsk

Trước Cách mạng Tháng Mười

Khởi nguyên của Đại học Hoàng gia Siberia bao gồm 4 khoa: Khoa Lịch sử và Ngữ văn; Khoa Vật lý và Toán học; Khoa Luật và Y; được bắt đầu vào ngày 16 (28) tháng Năm, 1878[5] theo sắc lệnh của Hội đồng quốc gia Đế quốc Nga [6]. Bản thiết kế tòa nhà chính được hoàn thành bởi kiến trúc sư Alexander Konstantinovich Bruni ở Saint Petersburg và được giám sát thi công một cách linh hoạt thực hiện một cách sáng tạo bởi kiến ​​trúc sư bản địa là Pavel Petrovich Naranovich [7].

Đại học Hoàng gia Siberia được khởi công vào ngày 26 tháng 8 (7 tháng 9) năm 1880 và được khánh thành vào ngày 22 tháng 7 (3 tháng 8) năm 1888 , với một khoa là Khoa Y (năm 1930 khoa này được chuyển đổi thành Viện Y khoa Tomsk[8]), với người lãnh đạo là Alexander Stanislavovich Dogel. Trường khai giảng với 8 giáo sư, 7 người trợ giảng, 72 sinh viên và 2 nhân viên, và tiết học đầu tiên mang chủ đề "Cuộc sống là gì?" [9]. Khoa thứ hai của trường là Khoa Luật được mở vào năm 1898 [10].

Đợt tuyển sinh đầu tiên có 72 người, đợt tốt nghiệp đầu tiên (31 bác sĩ, 16 người trong số họ nhận bằng xuất sắc) diễn ra vào tháng 12 năm 1893. Trong số những người tốt nghiệp đầu tiên có các chuyên gia nổi tiếng sau này là Alexey Alexandrovich Kulyabko, Pavel Vasilievich Butyagin, Sergei Mikhailovich Timashev. Tổng cộng, trong giai đoạn trước cách mạng (1888-1917), trường đã đào tạo 1.584 bác sĩ và 240 luật sư [11].

Trong Liên bang Xô Viết

Trong Nội chiến, nhiều giáo sư từ các trường đại học ở PermKazan đã được sơ tán đến Tomsk và làm việc tại Đại học Quốc gia Tomsk [12]. Năm 1920, Khoa Luật được tổ chức lại thành Khoa Xã hội học, sau đó Khoa Lịch sử và Ngữ văn mở vào năm 1921. Năm 1922, Khoa Khoa học Xã hội bị đóng cửa và trường không đào tạo các ngành về xã hội và nhân văn cho đến năm 1940 [13].

Vào tháng 7 năm 1931, Khoa Sư phạm của Đại học Quốc gia Tomsk được chuyển đổi thành Học viện Sư phạm Quốc gia Tomsk [14].

Trong thời kỳ Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, các hoạt động của Đại học Quốc gia Tomsk đã được cải cách đáng kể. Trong những năm 1944-1955, TSU là một trong những trung tâm nghiên cứu hàng đầu của đất nước về phát triển các hệ thống phòng thủ mới và là đơn vị đi đầu trong việc chứng minh khoa học cho các dự án kinh tế và nông nghiệp toàn cầu của đất nước.

Ngày 7 tháng 1 năm 1967, Đại học Quốc gia Tomsk được trao tặng Huân chương Cờ đỏ Lao động theo Sắc lệnh của Đoàn chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô vì những đóng góp của trường trong việc phát triển khoa học và đào tạo chuyên gia, và ngày 8 tháng 9 năm 1980, Huân chương Cách mạng Tháng Mười vì những đóng góp to lớn của trường trong việc đào tạo chuyên gia có trình độ cao cho nền kinh tế quốc dân, phát triển khoa học và hướng đến đến kỷ niệm 100 năm thành lập trường.

Trong Liên bang Nga

Năm 1995, Khoa Văn hóa và Khoa Ngoại ngữ là 2 khoa đầu tiên của trường được lập trong giai đoạn hậu Liên Xô [15] [16].

Theo Sắc lệnh số 30 ngày 15 tháng 1 năm 1998 của Tổng thống Liên bang Nga, Đại học Quốc gia Tomsk được đưa vào Danh mục quốc gia về Di sản văn hóa đặc biệt có giá trị của Nhân dân Liên bang Nga [17].

Theo Sắc lệnh của Chính phủ Liên bang Nga ngày 9 tháng 3 năm 2006 số 306-r, Đại học Quốc gia Tomsk được tái cấu trúc thông qua sáp nhập nhiều cơ sở giáo dục khác tại địa phương.

Vào ngày 16 tháng 2 năm 2007, Cyberia SKIF[18] đã được lắp đặt tại Đại học Quốc gia Tomsk, là siêu máy tính mạnh nhất vào thời điểm đó ở các nước SNG và Đông Âu (nếu không tính phần lãnh thổ Nga ở phía Tây dãy Ural) [19].

Là một phần của quá trình chuyển đổi giáo dục đại học ở Nga và việc giới thiệu hệ thống các trường đại học hàng đầu, Đại học Quốc gia Tomsk vào ngày 27 tháng 4 năm 2010 đã nhận được quy chế trở thành Đại học Nghiên cứu Quốc gia (NRU)[20] và cơ hội làm việc với các nhà khoa học xuất sắc từ khắp nơi trên thế giới.

Từ năm 2013, Đại học Quốc gia Tomsk đã tham gia Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường đại học hàng đầu của Nga giữa các trung tâm khoa học và giáo dục hàng đầu thế giới [21].

Tính đến tháng 5 năm 2019, TSU bao gồm 15 khoa và năm viện [22] với 23 nghìn sinh viên, 800 nghiên cứu sinh sau đại học và tiến sĩ , trong đó hơn 2200 là sinh viên quốc tế đến từ 39 quốc gia [23].

Hơn 100 Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Viện Hàn lâm Khoa học Y khoa Nga và các Viện hàn lâm khoa học của các quốc gia khác, hơn 250 người đoạt Giải thưởng quốc gia và 3 người đoạt Giải Nobel đã học và làm việc tại TSU [24].

Về cơ sở vật chất, niềm tự hào của trường đại học là Thư viện Khoa học với hơn 3,7 triệu bản [25], các bảo tàng sách quý và Vườn Bách thảo Siberia.

Uy tín và Xếp hạng

Năm 2014, «Эксперт РА» đã xếp hạng Đại học Quốc gia Tomsk ở mức “B”, nghĩa là trình độ đào tạo của sinh viên tốt nghiệp ở mức rất cao. Trường đại học duy nhất ở SNG được xếp loại “A” (đặc biệt cao) trong bảng xếp hạng này là Đại học Quốc gia Moscow.

Năm 2020, Quacquarelli Symonds đã công bố QS World University Ranking 2021, một trong những bảng xếp hạng có uy tín nhất trong cộng đồng học thuật. Đại học Quốc gia Tomsk lọt vào TOP-300 trường đại học tốt nhất thế giới, đứng ở vị trí thứ 250 [26] và trở thành trường đại học thứ tư của Liên bang Nga góp mặt trong bảng xếp hạng này.

Cũng trong năm 2020, theo ấn phẩm Times Higher Education (THE) , Đại học Quốc gia Tomsk xếp trong nhóm 501–600 [27] trường đại học hàng đầu thế giới, và đạt vị trí thứ 103 trong danh sách các trường đại học có tính quốc tế hóa cao nhất thế giới, trở thành trường đại học đầu tiên của Nga được xếp trong bảng xếp hạng này [28].

Năm 2022, Đại học Quốc gia Tomsk lọt vào Bảng xếp hạng quốc tế “ Ba sứ mệnh của trường đại học ”, đạt vị trí thứ 196[29] . Cùng năm, trường đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng RAEX về "100 trường đại học tốt nhất tại Nga"[30] và đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng về tầm ảnh hưởng của các trường đại học tại Nga[31] . Trong bảng xếp hạng chuyên ngành RAEX, trường được đưa vào danh sách các trường đại học tốt nhất trong 17 lĩnh vực nghiên cứu [32].

Hoạt động giáo dục

Ấn bản khoa học

  • Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Tomsk [33]
  • Tạp chí khoa học TSU. Triết học. Xã hội học. Chính trị học [34]
  • Tạp chí khoa học TSU. Sinh học [35]
  • Tạp chí khoa học TSU. Lịch sử [36]
  • Tạp chí khoa học TSU. Toán học. Cơ học [37]
  • Tạp chí khoa học TSU. Điều khiển. Khoa học và kỹ thuật máy tính [38]
  • Tạp chí khoa học TSU. Ngữ văn [39]
  • Tạp chí khoa học TSU. Kinh tế [40]
  • Tạp chí khoa học TSU. Văn hóa và lịch sử nghệ thuật [41]
  • Tạp chí Toán rời rạc ứng dụng [42]
  • Tạp chí Ngôn ngữ và Văn hóa (do Khoa Ngoại ngữ xuất bản hàng quý).

Hợp tác quốc tế

Đại học Quốc gia Tomsk là thành viên của UArctic[43] , mạng lưới hợp tác quốc tế bao gồm các trường đại học có cơ sở đào tạo trong vành đai Bắc Cực, bao gồm hơn 200 trường đại học và các tổ chức khác có mối quan tâm trong việc thúc đẩy giáo dục và nghiên cứu tại khu vực Bắc Cực [44]. Sự hợp tác đã bị tạm dừng sau Chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga [45].

Cấu trúc

Khoa

Tên Khoa/Viện Năm thành lập Các tên gọi trước đó (và năm thành lập)
Viện Sinh học (БИ) 2007 Khoa Sinh học (1935)
Khoa Địa chất – Địa lý (ГГФ) 1952 Khoa Địa lý – Thổ nhưỡng – Địa chất (1933)
Khoa Địa lý (1393)
Khoa Hóa học (ХФ) 1932
Viện Kinh tế và Quản lý (ИЭМ) 2016 Khoa Kinh tế (1963)
Viện Luật (ЮИ) 1994 Khoa Luật (1898)
Khoa Khoa học Xã hội (1920)
Khoa Triết học (ФсФ) 1987
Viện Nghệ thuật và Văn hóa (ИИК) 2001 Khoa Văn hóa học (1995)
Khoa Tâm lý học (ФП) 1996
Khoa Lịch sử và Khoa học Chính trị (ФИПН) 2018 Khoa Ngữ văn – Lịch sử (1917)
Khoa Lịch sử (1940)
Khoa Ngữ văn (ФилФ) 1974 Khoa Ngữ văn – Lịch sử (1917)
Khoa Ngoại ngữ (ФИЯ) 1995 Bộ môn Ngoại ngữ (1931)
Khoa Báo chí (ФЖ) 2004
Khoa Cơ học – Toán học (ММФ) 1948 Khoa Vật lý – Toán học (1917)
Khoa Vật lý (ФФ) 1948 Khoa Vật lý – Toán học (1917)
Khoa Vật lý – Kỹ thuật (ФТФ) 1933
Viện Toán học Ứng dụng và Khoa học Máy tính (ИПМиКН)
Khoa Khoa học Máy tính
Khoa Toán học Ứng dụng
2017
Khoa Vô tuyến điện tử (РФФ) 1953
Khoa Giáo dục Thể chất (ФФК) 2005
Viện Giáo dục Quân sự 2008 1926 — Bộ môn Giáo dục Quân sự
Khoa Công nghệ Sáng tạo (ФИТ) 2009
Trung tâm Giáo dục – Nghiên cứu Trường CNTT Cao cấp (HITs) 2017
Khoa Dự bị Đại học
Viện Giáo dục 2020

Chi nhánh và đơn vị trực thuộc trường

  • Viện Luật Novosibirsk (chi nhánh) của Đại học Quốc gia Tomsk
  • Viện Vật lý và Công nghệ Siberia
  • Viện nghiên cứu Toán ứng dụng và Cơ học
  • Viện nghiên cứu Sinh học và Vật lý Sinh học
  • Vườn Bách thảo Siberia
  • Thư viện khoa học

Bảo tàng

  • Bảo tàng Lịch sử TSU (1984, mở cửa trở lại năm 2002)
  • Vườn bách thảo Siberia (1880)
  • Bảo tàng Khảo cổ học và Dân tộc học Siberia mang tên Florinsky (1882)
  • Bảo tàng Động vật học (1885)
  • Bảo tàng Thực vật học mang tên Krylov (1885)
  • Bảo tàng Cổ sinh vật học mang tên Khakhlov[46] (1888)
  • Bảo tàng Khoáng vật học mang tên Bazhenov (1888)
  • Phòng Bản thảo và Di tích Sách của Thư viện Quốc gia TSU (1944)
  • Bảo tàng Lịch sử Vật lý (1985)
  • Bảo tàng Sách của Thư viện Khoa học TSU (2005)

Giáo sư đạt giải Nobel

  • Ivan Petrovich Pavlov - Nobel Sinh lý học và Y khoa năm 1904
  • Nikolay Nikolayevich Semyonov - Nobel Hóa học năm 1956

Cựu sinh viên Việt Nam nổi bật

  • Hoàng Thị Hồng Trang tốt nghiệp năm 2018, là tiến sĩ người Việt đầu tiên tốt nghiệp Đại học Quốc gia Tomsk [47]. Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, chị trở về công tác tại Khoa Tiếng Nga, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh [48].

Hiệu trưởng

  • 1888–1889 — Н. А. Гезехус
  • 1889-1889 — А. С. Догель
  • 1890–1892 — В. Н. Великий
  • 1892–1894 — А. И. Судаков
  • 1894–1895 — Н. Ф. Кащенко
  • 1895-1895 — Н. М. Малиев
  • 1895–1903 — А. И. Судаков
  • 1903–1906 — М. Г. Курлов
  • 1906–1909 — В. В. Сапожников
  • 1909–1913 — И. А. Базанов
  • 1913–1916 — М. Ф. Попов
  • 1916–1917 — И. Н. Грамматикати
  • 1917–1918 — В. В. Сапожников
  • 1918–1921 — А. П. Поспелов
  • 1921–1922 — Б. Л. Богаевский
  • 1922-1922 — В. Д. Кузнецов
  • 1922–1929 — В. Н. Саввин
  • 1929–1931 — Д. В. Горфин
  • 1931–1932 — А. И. Мискинов
  • 1932–1936 — А. Л. Щепотьев
  • 1936–1937 — Б. П. Токин
  • 1937–1938 — М. Г. Журавков
  • 1938-1938 — И. И. Колюшев
  • 1938–1948 — Я. Д. Горлачёв
  • 1948–1954 — В. Т. Макаров
  • 1954–1960 — А. П. Бунтин
  • 1960-1960 — В. А. Пегель
  • 1961–1967 — А. И. Данилов
  • 1967–1983 — А. П. Бычков
  • 1983–1992 — Ю. С. Макушкин
  • 1992–1995 — М. К. Свиридов
  • 1995–2013 — Г. В. Майер
  • 2013– nay — Э. В. Галажинский

Tham khảo

  1. Facts and Figures
  2. УСТАВ федерального государственного бюджетного образовательного учреждения высшего профессионального образования «Национальный исследовательский Томский государственный университет»
  3. Национальные исследовательские университеты России - список вузов, факультеты и специальности
  4. Наш город родной. Исторические и памятные места Томска. (Сост. М. И. Чугунов, В. А. Соловьёва). Новосибирск: Западно-Сибирское книжное издательство, 1982. — 216 с., 24 л. ил; с. 113
  5. Энциклопедический словарь Брокгауза и Ефрона : в 86 т. (82 т. и 4 доп.). — СПб., 1890—1907.
  6. Основные сведения
  7. Императорский Томский университет
  8. От медицинского факультета Императорского Томского университета к Сибирскому государственному медицинскому университету
  9. История названий томских улиц. — Томск: Издательство Д-Принт, 2012. — 368 с. — ISBN 978-5-902514-51-0.
  10. Открытие Юридического факультета и его деятельность в 1898-1922 гг. Юридический институт ТГУ
  11. Наш город родной. Исторические и памятные места Томска. (Сост. М. И. Чугунов, В. А. Соловьёва). Новосибирск: Западно-Сибирское книжное издательство, 1982. — 216 с., 24 л. ил; с. 115
  12. ИСТОРИЯ ФИПН
  13. Краткий очерк истории исторического факультета ТГУ
  14. Войтеховская М. П., Галкина Т.В. Томский педагогический: от института к университету. Томск, 2002. — 268 с. — с. 17
  15. Об институте
  16. ИСТОРИЯ ФАКУЛЬТЕТА
  17. Указ Президента Российской Федерации от 15.01.1998 г. № 30
  18. Телекомпания ТВ2
  19. Суперкомпьютеры в вузах РФ должны быть отечественными - Грызлов
  20. ТГУ получил статус "Национального исследовательского университета
  21. Три сибирских университета получат субсидии на продвижение в рейтингах
  22. Факультеты и институты
  23. Tomsk State University
  24. Нобелевские лауреаты в ТГУ. Alma Mater
  25. Коллекции Научной библиотеки Томского государственного университета
  26. QS World University Rankings 2021
  27. World University Rankings
  28. Most international universities in the world
  29. Рейтинг Три Миссии Университетов, 2022
  30. Рейтинг лучших вузов России RAEX-100, 2022 год
  31. Названы самые влиятельные вузы России
  32. Томский государственный университет
  33. Вестник Томского государственного университета
  34. Вестник Томского государственного университета. Философия. Социология. Политология
  35. Вестник Томского государственного университета. Биология
  36. Вестник Томского государственного университета. История
  37. Вестник Томского государственного университета. Математика и механика
  38. Вестник Томского государственного университета. Управление. Вычислительная техника и информатика
  39. Вестник Томского государственного университета. Филология
  40. Вестник Томского государственного университета. Экономика
  41. Вестник Томского государственного университета. Культурология и искусствоведение
  42. Прикладная дискретная математика
  43. Members. UArctic
  44. About Us. UArctic
  45. Shared Voices 2022. UArctic
  46. Палеонтологический музей имени В. А. Хахлова
  47. A postgraduate student from Vietnam defended her thesis at TSU
  48. Nữ tiến sĩ 2 lần được vinh danh