Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow”

Từ Wiki Du học Nga
Dòng 110: Dòng 110:
Năm 1954, tòa nhà ký túc xá đầu tiên, '''''общежития «А»''''' (nay là ''«двойка»'') được xây dựng. Xuất hiện tuyến tàu điện đầu tiên đi qua MIPT.
Năm 1954, tòa nhà ký túc xá đầu tiên, '''''общежития «А»''''' (nay là ''«двойка»'') được xây dựng. Xuất hiện tuyến tàu điện đầu tiên đi qua MIPT.


Năm 1967, MIPT được trao tặng '''Huân chương Lao động Cờ đỏ''', trao tặng cho những thành tích lao động xuất sắc.
Năm 1967, MIPT được trao tặng '''Huân chương Lao động Cờ đỏ''', trao tặng cho những thành tích lao động xuất sắc <ref>[https://zanauku.mipt.ru/2021/11/25/fiztehu-75-let-hronika-rozhdeniya-i-zhizni/: За науку : Физтеху 75 лет: хроника рождения и жизни]</ref>.  


Năm 1995, MIPT được công nhận là '''[[:Thể loại:Đại học Nga|trường đại học công lập]]'''. Năm 1999, Phystech là một trong những trường đại học đầu tiên của Nga chuyển sang ''hệ thống Bologna'' <ref>[https://mipt.ru/about/istoriya-fiztekha.php: История Физтеха]</ref>. Từ năm 2009, MIPT đã trở thành '''[[Đại học Nghiên cứu Quốc gia|Đại học Nghiên cứu Quốc gia]]'''.
Năm 1995, MIPT được công nhận là '''[[:Thể loại:Đại học Nga|trường đại học công lập]]'''. Năm 1999, Phystech là một trong những trường đại học đầu tiên của Nga chuyển sang ''hệ thống Bologna'' <ref>[https://mipt.ru/about/istoriya-fiztekha.php: История Физтеха]</ref>. Từ năm 2009, MIPT đã trở thành '''[[Đại học Nghiên cứu Quốc gia|Đại học Nghiên cứu Quốc gia]]'''.
Năm 2003, Nội các Ukraine đã trao tặng Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow: Chứng nhận Danh dự và Huy chương vì những đóng góp đáng kể của MIPT cho sự phát triển của giáo dục <ref>''Постановление Кабинета Министров Украины от 23 октября 2003 года № 1660-2003-п'' [https://zakon.rada.gov.ua/rada/show/1660-2003-%D0%BF#Text: «О награждении Почётной грамотой Кабинета Министров Украины»]</ref>.


Năm 2014, Phystech trở thành trường đại học đầu tiên của Nga ra mắt khóa học trên '''''nền tảng Coursera'''''. Năm 2017, MIPT đã triển khai chương trình thạc sĩ trực tuyến đầu tiên tại Nga và được đưa vào Danh sách các trường đại học và tổ chức khoa học có thể độc lập cấp bằng ứng viên và tiến sĩ thay cho Ủy ban chứng nhận cao hơn (19 trường đại học và 4 tổ chức khoa học) <ref>Постановление Правительства от 23 августа 2017 года № 1792-р</ref>. Vào cuối năm 2017, MIPT đã trở thành trung tâm của Sáng kiến ​​Công nghệ Quốc gia trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo <ref>[https://mipt.ru/news/mfti_stal_tsentrom_nti_po_napravleniyu_iskusstvennyy_intellekt: МФТИ стал центром НТИ по направлению «Искусственный интеллект»]</ref>.
Năm 2014, Phystech trở thành trường đại học đầu tiên của Nga ra mắt khóa học trên '''''nền tảng Coursera'''''. Năm 2017, MIPT đã triển khai chương trình thạc sĩ trực tuyến đầu tiên tại Nga và được đưa vào Danh sách các trường đại học và tổ chức khoa học có thể độc lập cấp bằng ứng viên và tiến sĩ thay cho Ủy ban chứng nhận cao hơn (19 trường đại học và 4 tổ chức khoa học) <ref>Постановление Правительства от 23 августа 2017 года № 1792-р</ref>. Vào cuối năm 2017, MIPT đã trở thành trung tâm của Sáng kiến ​​Công nghệ Quốc gia trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo <ref>[https://mipt.ru/news/mfti_stal_tsentrom_nti_po_napravleniyu_iskusstvennyy_intellekt: МФТИ стал центром НТИ по направлению «Искусственный интеллект»]</ref>.

Phiên bản lúc 15:57, ngày 21 tháng 4 năm 2025

VIỆN VẬT LÝ-KỸ THUẬT MOSCOW
Московский физико-технический институт (национальный исследовательский университет)
МФТИ, Физтех
Tên quốc tế Moscow Institute of Physics and Technology
Tên viết tắt МФТИ, MIPT, Физтех, Phystech
Tên cũ Khoa Vật lý-Kỹ thuật MGU
Tiêu ngữ Дерзай знать
Sapere aude
Dám biết!
Thành lập 17 Tháng Chín, 1951
Địa chỉ 117303, Москва, Керченская улица, 1А, корп.
Website mipt.ru
Sinh viên 8.000 (2024)
Sv đại học 4.800 (2024)
Sv quốc tế 700
Thành tích
Huân chương Cờ đỏ Lao động (Liên Xô)
Bằng khen của Chính phủ Ukraina (Ukraina)

Viện Vật lý và Công nghệ Moscow (Đại học Nghiên cứu Quốc gia), tên tiếng Nga là Московский физико-технический институт (национальный исследовательский университет), viết tắt là MIPT, Phystech [1] là một trường đại học hàng đầu của Nga [2] trong đào tạo các chuyên gia về các lĩnh vực Vật lý lý thuyết, Vật lý thực nghiệm, Vật lý ứng dụng, Toán học, Khoa học máy tính, Hóa học, Sinh học và các lĩnh vực liên quan. Trường nằm ở thành phố Dolgoprudny thuộc tỉnh Moscow [3], với các tòa nhà và khoa riêng biệt nằm ở Zhukovsky [4]Moscow.

Một đặc điểm nổi bật của quá trình giáo dục tại MIPT là Hệ thống Phystech (tiếng Nga: система Физтеха), được thành lập nhằm mục đích đào tạo các nhà khoa học và kỹ sư làm việc trong các lĩnh vực khoa học tân tiến. Hiện nay, phần lớn sinh viên đang theo học các chuyên ngành “Toán ứng dụng và Vật lý ứng dụng”, ngoài ra còn đào tạo các chuyên gia trong các chuyên ngành “Toán ứng dụng và Khoa học máy tính”, “Khoa học máy tính và Kỹ thuật máy tính”, “Bảo mật máy tính”, “Phân tích và quản lý hệ thống”, “Vật lý kỹ thuật” và “Công nghệ sinh học” [5].

Theo hầu hết các bảng xếp hạng quốc gia và quốc tế, Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow nằm trong Top 3 trường đại học hàng đầu ở Nga, chiếm vị trí cao trong các lĩnh vực Vật lý, Toán học, Khoa học máy tính, Kỹ thuật máy tính, Sinh học và Điện tử. Kể từ năm 2018, trường đã được xếp hạng thứ nhất trong số các trường đại học trên toàn lãnh thổ Liên bang Nga về điểm trung bình của Kỳ thi đầu vào đại học ЕГЭ, sau 7 năm liên tiếp xếp dưới MGIMO[6] . Năm 2014, «Эксперт РА» đã công nhận trình độ của sinh viên tốt nghiệp ngành Phystech đạt mức cao nhất. Forbes mô tả MIPT là “một huyền thoại về giáo dục và khoa học” [7]. Phystech đã hai lần được đưa vào danh sách 100 trường đại học danh giá nhất thế giới theo tạp chí Times Higher Education của Anh [8] [9].

MIPT hiện là cơ sở giáo dục dẫn đầu dự án Ưu tiên 2030 (tiếng Nga: Приоритет 2030), nhằm đưa Nga trở lại vị thế dẫn đầu về công nghệ [10]. Trước đây, trường cũng là đơn vị dẫn đầu Dự án 5-100 (tiếng Nga: Проекта 5-100), nhằm mục đích nâng cao uy tín của giáo dục đại học Nga trên bình diện toàn cầu, với mục tiêu đưa ít nhất 5 trường đại học của Nga lọt vào top 100 thế giới [11] [12].

Hệ thống Phystech

Pyotr Leonidovich Kapitsa, người đoạt giải Nobel vật lý và là một trong những người khởi xướng việc thành lập Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow, đã xây dựng các nguyên tắc của Hệ thống Phystech như sau (trong một lá thư gửi Stalin năm 1946) [13]:

  1. Việc đào tạo sinh viên chuyên ngành được thực hiện trực tiếp bởi đội ngũ nghiên cứu của các Viện thành viên bằng cách sử dụng các thiết bị kỹ thuật mới của chính các Viện này;
  2. Đào tạo tại các Viện thành viên bao gồm tương tác cá nhân với từng sinh viên;
  3. Mỗi sinh viên phải tham gia công tác khoa học bắt đầu từ năm thứ hai hoặc thứ ba;
  4. Sau khi tốt nghiệp, sinh viên phải thành thạo các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm hiện đại, cũng như có đủ kiến ​​thức chuyên môn để giải quyết các vấn đề kỹ thuật hiện đại.

Theo những người sáng lập, Hệ thống Phystech kết hợp và bổ sung cho nhau nền giáo dục cơ bản, các ngành kỹ thuật và công trình nghiên cứu của sinh viên tại các Viện hàng đầu của Viện Hàn lâm Khoa học Nga (trước đây là Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô), các Viện công nghiệp và các Viện thiết kế như Viện Vật lý Lebedev, Viện Nghiên cứu Nguyên tử Kurchatov, Viện Các vấn đề Vật lý mang tên Kapitsa, Trung tâm Máy tính của Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Viện Toán ứng dụng mang tên Keldysh, Viện Vật lý Hóa học mang tên Semenova, Viện Hóa học Hữu cơ sinh học mang tên Shemyakina và Ovchinnikova và nhiều đơn vị khác [14]. Tại các cơ sở này, các khoa sau đại học đã được thành lập để cung cấp chương trình đào tạo chuyên sâu cho sinh viên. Hơn 80 học giả và thành viên tương ứng của Viện Hàn lâm Khoa học Nga đã giảng dạy tại Phystech, theo đó tỷ lệ số lượng Viện sĩ và Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Khoa học Nga trên mỗi sinh viên của MIPT là lớn nhất trong số các trường đại học ở Liên bang Nga [15].

Hệ thống Phystech sau đó được sử dụng để thành lập Đại học Quốc gia Novosibirsk vào năm 1958 [16]Viện Vật lý Kỹ thuật thuộc Viện Bách khoa Kiev vào năm 1995 [17]. Hiện nay, các nguyên tắc này được các sinh viên tốt nghiệp của MIPT sử dụng khi thành lập các cơ sở giáo dục mới trong lĩnh vực kinh tế và nhân văn, ví dụ như Trung tâm khởi nghiệp doanh nghiệp tại Trường Kinh tế Cao cấp [18].

Năm 2001, Đoàn Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Nga đã công nhận Hệ thống Phystechhệ thống đáp ứng được những thách thức của giáo dục đại học trong điều kiện hiện đại, đảm bảo sự hội nhập thực sự giữa khoa học và giáo dục, xứng đáng nhận được mọi sự hỗ trợ và phát triển hơn nữa.

Hệ thống thu hút và tuyển chọn học sinh năng khiếu

Kể từ khi thành lập, Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow luôn chú trọng đến việc làm việc với các sinh viên tiềm năng. Một hệ thống thu hút học sinh có năng khiếu và tuyển chọn sau đó đã được hình thành, bao gồm các lĩnh vực hoạt động sau:

  1. Trường Vật lý Kỹ thuật từ xa dành cho học sinh cuối cấp (có khả năng giáo dục miễn phí cho bất kỳ học sinh Nga nào đáp ứng các yêu cầu giáo dục có liên quan). Đối với những người ở xa, bài tập sẽ được gửi qua đường bưu điện hoặc email.
  2. Trường Vật lý Kỹ thuật buổi tối, với các lớp Vật lý và Toán chuyên ngành tại một số trường học ở Moscow và khu vực.
  3. Tiến hành các kỳ thi Olympic Vật lý và Toán học hàng năm như Phystech (tiếng Nga: Физтех) và Olympic Lập trình Trung học Mở rộng (tiếng Nga: Открытой олимпиады школьников по программированию) [19], được đánh giá xếp loại ưu tiên đầu tiên hoặc thứ hai trong các kỳ thi Olympic trung học [20]. Theo quy định tuyển sinh vào MIPT, những người chiến thắng và người đạt giải thưởng của các kỳ thi Olympic này sẽ nhận được quyền lợi hạng nhất hoặc hạng nhì (được tuyển sinh mà không cần thi hoặc đạt điểm tối đa cho môn học đó trong kỳ thi Đầu vào đại học ЕГЭ) [21].
  4. Các sự kiện không thường kỳ (từ họp báo đến bài thuyết trình) giúp chúng ta nhớ lại sự tồn tại của Phystech và tóm tắt về lịch sử cũng như thành tựu của ngành.
  5. Các cuộc thi Olympic và cuộc thi dành cho cả học sinh và sinh viên đại học của các cơ sở giáo dục đại học khác.

Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow trở thành một trường đại học năng khiếu đặc biệt vì:

  • Trường được Chính phủ Liên-Xô quan tâm đặc biệt.
  • Giảng viên ở đây phần lớn là các nhà vật lý lừng danh thế giới.
  • Học sinh nhập học vào đây đều được tuyển lựa, được các nhà khoa học xuất sắc nhất đích thân khảo thí và dựa theo một tiêu chuẩn duy nhất là trí tuệ.
  • Giới hạn số lượng sinh viên nhập học
  • Cách thức đào tạo ở đây là kết hợp học và nghiên cứu khoa học với cường độ cao. Ngay khi đang ngồi trên ghế nhà trường, họ đã tham gia nghiên cứu các đề án có tầm cỡ quốc gia.

Sau 5-6 năm, sinh viên đã trở thành cán bộ nghiên cứu khoa học - kỹ thuật thực thụ (Trong các trường đại học bình thường khác, sinh viên phải cần đến 10, 15 hoặc 20 năm mới trở thành cán bộ nghiên cứu thực sự: Họ học xong đại học ở độ tuổi 22 – 23. Sau 5-7 năm tập sự và đến tuổi 30 làm chủ được các môn khoa học lớn). Sinh viên MIPT ở độ tuổi 20 đã là một nhà khoa học - kỹ thuật trưởng thành, có thể tự giải quyết các vấn đề khoa học - kỹ thuật nghiêm túc.

Khi mới thành lập, điều đáng lưu ý là phần đông sinh viên MIPT được trúng tuyển vào trường đều xuất thân từ các vùng sâu vùng xa. Đó là những em rất thông minh, nhưng vì điều kiện thiếu thốn các em chưa được học đến nơi đến chốn. Nhưng dưới con mắt của các nhà khoa học và sư phạm thiên tài, khả năng trí tuệ của các em đã được phát hiện chính xác. Khi mới vào trường, các thầy phải dạy các em những kiến thức rất sơ đẳng. Nhưng chỉ sau 5-7 buổi lên lớp, các em đã tiếp thu được những kiến thức mà chỉ có thể dạy cho các nghiên cứu sinh và sinh viên lớp trên ở Đại học Quốc gia Moscow. Ở Liên Xô cũ, mọi người thường nói vui rằng công nghệ giáo dục ở Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow bao gồm ba công đoạn: Vườn trẻ - Cánh cửa đại học - Luận án tiến sĩ.

Lịch sử

Ý tưởng về việc thành lập trường

Những người sáng lập Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow bao gồm những nhà khoa học đoạt giải Nobel là Pyotr Leonidovich Kapitsa, Nikolai Nikolaevich SemenovLev Davidovich Landau, cùng với Sergei Alekseevich Khristianovich, tất cả đều là các Viện sĩ của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Mục tiêu là triển khai một hệ thống mới để đào tạo cán bộ khoa học. Theo kế hoạch của các nhà khoa học, cơ sở giáo dục này được cho là đào tạo kỹ sư cho các Viện thiết kế, kỹ sư nghiên cứu cho các Trung tâm công nghiệp, các Phòng thí nghiệm công nghiệp và các Viện nghiên cứu, cũng như các khoa chuyên ngành tương lai của các trường đại học [22]. Thậm chí người ta còn chuẩn bị một nghị quyết thành lập Viện Vật lý Kỹ thuật (tiếng Nga: Физико-технического института), nhưng Thế chiến II đã nổ ra.

Sau khi Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại kết thúc, ý tưởng thành lập một cơ sở giáo dục mới ngày càng được nhiều nhà khoa học ủng hộ. Những suy nghĩ của họ đã được Pyotr Leonidovich Kapitsa tóm tắt trong một lá thư gửi Joseph Vissarionovich Stalin ngày 1 tháng 2 năm 1946, chỉ ra rằng "một số viện trưởng của các viện khoa học hàng đầu tại Moscow coi việc tự đào tạo nhân sự là điều cần thiết để các viện của họ tiếp tục phát triển và tăng trưởng". Ngoài ra, lá thư còn đề cập lần đầu tiên đến các nguyên tắc của Hệ thống Phystech.

Khoa Vật lý Kỹ thuật thuộc MGU

Ngay từ đầu, Kapitsa đã ủng hộ việc thành lập viện như một tổ chức độc lập, do hội đồng quản trị của các viện cơ sở quản lý, không tin rằng hệ thống mới có thể tồn tại trong khuôn khổ của một cơ sở giáo dục thông thường. Ngày 10 tháng 3 năm 1946, Hội đồng Dân ủy Liên Xô, do Stalin ký, đã thông qua nghị quyết "Về việc tổ chức Trường Vật lý và Công nghệ Cao cấp Liên Xô" (tiếng Nga: «Об организации Высшей физико-технической школы СССР») với kế hoạch bắt đầu các lớp học vào ngày 1 tháng 9 năm 1946 [23]. Hội đồng nhà trường được thành lập, bao gồm các viện sĩ Alikhanov, Vavilov, Vinogradov, Kapitsa, Kurchatov, Semenov và Khristianovich.

Những thay đổi nghiêm trọng trong kế hoạch đã diễn ra vào mùa hè năm 1946. Vào tháng 8, theo lệnh của Hội đồng Bộ trưởng do Stalin ký, Kapitsa đã bị cách chức giám đốc Viện Các vấn đề Vật lý, điều này dẫn tới việc thành lập ВФТШ như một trường đại học độc lập đã bị hủy bỏ. Thay vào đó, Viện được thành lập như một Khoa thuộc Đại học Quốc gia Moscow.

Theo Sắc lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 25 tháng 11 năm 1946, Khoa Vật lý-Kỹ thuật thuộc Đại học Tổng hợp Moscow (tiếng Nga: физико-технический факультет МГУ - ФТФ МГУ) được thành lập. Sergei Alekseevich Khristianovich trở thành Phó Hiệu trưởng Đại học Quốc gia Moscow về các vấn đề đặc biệt, và Dmitry Yuryevich Panov trở thành Trưởng khoa đầu tiên của Khoa Vật lý-Kỹ thuật.

Khoa được tổ chức trong một tòa nhà giáo dục ba tầng chưa hoàn thiện, bị sập và cháy [24] của MATI (nay thuộc Viện Hàng không Moscow) tại nhà ga Dolgoprudnaya (nay là Tòa nhà Phòng thí nghiệm 5 tầng) [25]. Khoa cũng được cấp Ký túc xá MATI (nay là Tòa nhà Hội trường). Như Shchuka viết, Kapitsa có lẽ đã nhìn thấy ở nơi xa xôi của Dolgoprudny so với Moscow khả năng tạo ra thứ gì đó giống như một thị trấn đại học Cambridge [26].

Trong 5 năm tiếp theo, khoa phải đối mặt với sự từ chối của hệ thống mới mà Kapitsa mong đợi. Khoa mới này trở thành đối thủ cạnh tranh với các khoa vật lý và các trường đại học khác tại Moscow về số lượng ứng viên và sinh viên xuất sắc nhất.

Dưới áp lực, vào mùa hè năm 1951, Khoa Vật lý-Kỹ thuật thuộc Đại học Quốc gia Moscow bị giải thể. Theo lệnh của Hội đồng Bộ trưởng ngày 17 tháng 9 năm 1951, Viện Vật lý-Kỹ thuật Moscow được thành lập để thay thế. Fyodor Ivanovich Dubovitsky được bổ nhiệm làm Quyền Hiệu trưởng MIPT.

Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow

Năm 1954, tòa nhà ký túc xá đầu tiên, общежития «А» (nay là «двойка») được xây dựng. Xuất hiện tuyến tàu điện đầu tiên đi qua MIPT.

Năm 1967, MIPT được trao tặng Huân chương Lao động Cờ đỏ, trao tặng cho những thành tích lao động xuất sắc [27].

Năm 1995, MIPT được công nhận là trường đại học công lập. Năm 1999, Phystech là một trong những trường đại học đầu tiên của Nga chuyển sang hệ thống Bologna [28]. Từ năm 2009, MIPT đã trở thành Đại học Nghiên cứu Quốc gia.

Năm 2003, Nội các Ukraine đã trao tặng Viện Vật lý Kỹ thuật Moscow: Chứng nhận Danh dự và Huy chương vì những đóng góp đáng kể của MIPT cho sự phát triển của giáo dục [29].

Năm 2014, Phystech trở thành trường đại học đầu tiên của Nga ra mắt khóa học trên nền tảng Coursera. Năm 2017, MIPT đã triển khai chương trình thạc sĩ trực tuyến đầu tiên tại Nga và được đưa vào Danh sách các trường đại học và tổ chức khoa học có thể độc lập cấp bằng ứng viên và tiến sĩ thay cho Ủy ban chứng nhận cao hơn (19 trường đại học và 4 tổ chức khoa học) [30]. Vào cuối năm 2017, MIPT đã trở thành trung tâm của Sáng kiến ​​Công nghệ Quốc gia trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo [31].

Năm 2019, MIPT đã mở văn phòng đại diện tại Trịnh Châu (Trung Quốc) [32].

Uy tín và Xếp hạng

Xếp hạng thế giới 2015 2020 2025
ShanghaiRanking’s ARWU 86 93
QS World University Rankings 114 84
«Три миссии университета» 21
Xếp hạng khu vực 2015 2020 2025
QS University Rankings: BRICS 3 6
QS Emerging Europe & Central Asia 1
Xếp hạng trong nước 2015 2020 2025
Interfax (Интерфакс) 1 1
RAEX 1

Năm 2018, Đại học Quốc gia Moscow xếp thứ 199 trong Times Higher Education World University Rankings và thứ 33 trong bảng xếp hạng danh tiếng [33] [34]

Năm 2019, Đại học Quốc gia Moscow đã lọt vào TOP-50 QS World University Rankings by Subject ở năm chuyên ngành cùng một lúc: Ngôn ngữ học (vị trí thứ 21), Vật lý và Thiên văn học (vị trí thứ 26), Ngôn ngữ đương đại (vị trí thứ 33), Toán học (vị trí thứ 34) và Khoa học máy tính (vị trí thứ 48) [35].

Năm 2022, Đại học Tổng hợp Moscow đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng các trường đại học tốt nhất của Nga về nhu cầu của sinh viên theo HeadHunter [36].

Hoạt động giáo dục

Theo Luật Liên bang Số 259-ФЗ ngày 10/11/2009, Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov được trao quyền thực hiện các chương trình giáo dục đại học được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn giáo dục do trường tự thiết lập. Ngoài ra, theo luật này, Đại học Quốc gia Moscow được quyền cấp cho những người đã hoàn thành chương trình đào tạo tại các chương trình giáo dục do trường đại học thực hiện các văn bằng giáo dục có ký hiệu chính thức của Liên bang Nga, được chứng nhận bằng con dấu của Đại học Quốc gia Moscow, mẫu văn bằng này do chính trường chấp thuận. Các văn bản giáo dục do Đại học Quốc gia Moscow cấp theo luật định cung cấp cho người sở hữu các văn bản này những quyền tương tự như những quyền được cung cấp cho người sở hữu các văn bản giáo dục do các trường đại học công lập của Liên bang Nga cấp [37].

Từ năm 2011, Đại học Quốc gia Moscow đã triển khai chương trình đào tạo tích hợp kéo dài 6 năm. Các hình thức đào tạo chính tại Đại học Quốc gia Moscow là chuyên gia, thạc sĩcử nhân. Chương trình của MGU khác với các chương trình của các cơ sở giáo dục đại học khác của Nga, từ năm 2011 đã chuyển sang đào tạo theo các nguyên tắc của Công ước Bologna, trong đó bao gồm việc chia thành các chương trình cấp bằng cử nhân và thạc sĩ. Các trường đại học Nga đào tạo bằng cử nhân trong bốn năm và bằng thạc sĩ trong hai năm. Các chuyên gia đã đánh giá những quyết định này của Đại học Quốc gia Moscow một cách mơ hồ [38].

Là một phần của chương trình phát triển mới của Đại học Quốc gia Moscow (2020-2030), người ta có kế hoạch thành lập 7 trường khoa học và giáo dục để tập hợp các nhóm nhà khoa học từ các khoa khác nhau [39]:

  • Không gian;
  • Bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử thế giới;
  • Hệ thống thần kinh, hệ thống nhận thức, trí tuệ nhân tạo;
  • Phương pháp toán học phân tích các hệ thống phức tạp;
  • Công nghệ phân tử của hệ thống sống và sinh học tổng hợp;
  • Công nghệ quang tử và lượng tử. Y học kỹ thuật số;
  • Tương lai của hành tinh: Giám sát môi trường toàn cầu.

Các trường khoa học bắt đầu đào tạo cán bộ và tiến hành nghiên cứu khoa học từ năm 2021.

Các khóa học liên khoa

Khóa đào tạo liên khoa của Đại học Quốc gia Moscow (Межфакультетский учебный курс МГУ - МФК МГУ) — khóa học kéo dài một học kỳ do các giáo viên của Đại học Moscow là chuyên gia trong lĩnh vực của họ giảng dạy. Mục đích của các khóa học là mô tả mối quan hệ giữa các lĩnh vực kiến ​​thức khác nhau: khoa học, nghệ thuật, chính trị, văn hóa, quá trình xã hội và công cộng. Các nhà khoa học hàng đầu trong và ngoài nước không phải là cán bộ của trường đại học được mời đến giảng bài. Việc thành thạo МФК là một phần không thể thiếu trong quá trình đào tạo sinh viên MGU và việc hoàn thành nó là bắt buộc [40]. Thông tin về các МФК mà sinh viên đã hoàn thành được đưa vào phần bổ sung bằng tốt nghiệp [41].

Cấu trúc

Khoa

Dưới đây là danh sách các khoa của Đại học Quốc gia Moscow hiện đang hoạt động, và lịch sử hình thành của các khoa đó

Giai đoạn Tên khoa (tiếng Nga) Tên khoa (dịch tiếng Việt) Năm thành lập
1755-1929 Философский факультет Khoa Triết học 1755
Юридический факультет Khoa Luật 1755
Медицинский факультет Khoa Y 1755
1929–1941 Химический факультет Khoa Hóa học 1929
Биологический факультет Khoa Sinh học 1930
Механико-математический факультет Khoa Cơ học và Toán học 1933
Физический факультет Khoa Vật lý 1933
Исторический факультет Khoa Lịch sử 1934
Геологический факультет Khoa Địa chất 1938
Географический факультет Khoa Địa lý 1938
Филологический факультет Khoa Ngữ văn 1941
Экономический факультет Khoa Kinh tế 1941
1952–1973 Факультет журналистики Khoa Báo chí 1952
Институт стран Азии и Африки (ИСАА) Viện các nước châu Á và châu Phi (ISAA) 1956
Факультет психологии Khoa Tâm lý học 1966
Факультет вычислительной математики и кибернетики (ВМК) Khoa Toán tin và Điều khiển học (VMK) 1970
Факультет почвоведения Khoa Thổ nhưỡng học 1973
1988–1995 Факультет иностранных языков и регионоведения (ФИЯР) Khoa Ngoại ngữ và Nghiên cứu Khu vực 1988
Социологический факультет Khoa Xã hội học 1989
Факультет наук о материалах (ФНМ) Khoa Khoa học Vật liệu 1991
Факультет фундаментальной медицины (ФФМ) Khoa Y học Cơ bản 1992
Факультет государственного управления (ФГУ) Khoa Quản lý Nhà nước 1993
Факультет военного обучения Khoa Đào tạo Quân sự 1995
Sau 1997 Факультет педагогического образования (ФПО) Khoa Sư phạm 1997
Факультет искусств Khoa Nghệ thuật 2001
Факультет биоинженерии и биоинформатики (ФББ) Khoa Công nghệ Sinh học và Tin sinh học 2002
Факультет мировой политики (ФМП) Khoa Chính trị Thế giới 2003
Факультет глобальных процессов (ФГП) Khoa Các quá trình toàn cầu 2005
Факультет политологии Khoa Khoa học Chính trị 2008
Факультет фундаментальной физико-химической инженерии (ФФФХИ) Khoa Kỹ thuật Vật lý-Hóa học Cơ bản 2011
Биотехнологический факультет Khoa Công nghệ Sinh học 2013
Факультет космических исследований МГУ (ФКИ) Khoa Nghiên cứu Vũ trụ MGU 2017

Trường đại học

Các trường đại học thành viên có chức năng và quyền hạn ngang với các khoa của Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov.

  • Trường đại học Kinh doanh, ВШБ МГУ. Đào tạo sinh viên bậc cử nhân, thạc sĩ, MBA và MBA điều hành trong lĩnh vực Quản lý. Thành lập năm 2001.
  • Trường đại học Kinh tế Moscow, МШЭ МГУ. Đào tạo cử nhân ngành Kinh tế, thạc sĩ các chuyên ngành “Lý thuyết kinh tế và các vấn đề của nước Nga hiện đại” và “Chiến lược kinh tế và tài chính”. Thành lập năm 2004.
  • Trường đại học Quản trị Nhà nước, ВШГА МГУ. Đào tạo cán bộ chuyên môn cho lĩnh vực hành chính nhà nước. Thành lập năm 2005.
  • Trường đại học Biên dịch, ВШП МГУ. Đào tạo chuyên gia biên dịch chuyên nghiệp, thành thạo công nghệ biên dịch hiện đại.
  • Trường đại học Kiểm toán Nhà nước, ВШГА МГУ. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực tài chính công, kiểm soát tài chính ở cấp liên bang, khu vực và địa phương, cũng như kiểm toán nội bộ và tổ chức kiểm toán.
  • Trường đại học Truyền hình, ВШТ МГУ. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực truyền hình và báo chí: phóng viên, người dẫn chương trình, nhà sản xuất, đạo diễn, biên kịch, biên tập viên, phóng viên ảnh, nhà phê bình truyền hình. Thành lập năm 2006.
  • Trường đại học Khoa học Xã hội Đương đại, ВШССН МГУ. Đào tạo chuyên gia trong các lĩnh vực xã hội học, kinh tế tri thức, quản lý và kiểm soát xã hội, triết học xã hội và văn hóa học. Thành lập năm 2006.
  • Trường đại học Quản trị và Đổi mới. Đào tạo kỹ sư thiết kế, chuyên gia công nghệ, tổ chức sản xuất, quản lý dự án khoa học-công nghệ cao. Thành lập năm 2006.
  • Trường đại học Kinh doanh Đổi mới. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thăm dò, khai thác và chế biến tài nguyên hydrocacbon, quản lý tài nguyên thiên nhiên. Thành lập năm 2006.
  • Trường đại học Chính sách Văn hóa và Quản lý trong lĩnh vực Nhân văn, ВШКПиУГС МГУ. Đào tạo chuyên gia quản lý, sản xuất và lãnh đạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và thể thao. Thành lập năm 2011.

Trung tâm

  • Khoa dự bị MGU được thành lập vào năm 1969 nhằm nâng cao trình độ giáo dục chung cho những thanh niên cần được bảo trợ và hỗ trợ của nhà nước trước khi học đại học.
  • Trung tâm khoa học và giáo dục chuyên môn MGU, СУНЦ МГУ được thành lập năm 1988 trên cơ sở trường nội trú Kolmogorov [42] [43], đào tạo lớp 10 và lớp 11.
  • Trường chuyên nội trú УГ МГУ là trường nội trú, một đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Moscow, được thành lập vào ngày 1 tháng 9 năm 2016. Chương trình đào tạo tại trường được chia thành 5 hướng chuyên: toán học, kỹ thuật, khoa học tự nhiên, nhân văn và kinh tế xã hội.
  • Trường Sau đại học Pháp, Французский университетский колледж là một cơ sở giáo dục đại học nhà nước được thành lập năm 1991 tại Đại học Quốc gia Moscow [44]. Khóa học kéo dài hai năm tại trường cao đẳng cung cấp cơ hội để lấy bằng kép, được công nhận tại Pháp, tương đương với việc hoàn thành một năm bằng thạc sĩ [45] trong một trong các ngành nhân văn sau: luật, lịch sử, xã hội học, văn học và triết học [46]. Năm 2016, Đại học Pháp tại Moscow đã kỷ niệm 25 năm thành lập [47].

Viện nghiên cứu

  • Viện Nghiên cứu Khoa học Vật lý Hạt nhân mang tên Skobeltsyn
  • Viện Cơ học
  • Viện Thiên văn Nhà nước mang tên Shternberg
  • Viện Nghiên cứu Khoa học Sinh học Lý-Hóa mang tên Belozersky
  • Trung tâm Máy tính Nghiên cứu Khoa học
  • Viện Các vấn đề lý thuyết của thế giới vi mô mang tên Bogolyubov
  • Viện Nghiên cứu Toán học các Hệ thống phức tạp
  • Viện Nghiên cứu và Bảo tàng Nhân học mang tên Anuchin
  • Viện Sinh thái học Thổ nhưỡng
  • Viện Văn hóa Thế giới
  • Viện Khoa học và Văn hóa Nga-Đức
  • Viện Các vấn đề về An ninh Thông tin
  • Viện Vật lý Lý thuyết và Toán học
  • Viện Bồi dưỡng và Tái đào tạo Giảng viên Khoa học Xã hội và Nhân văn

Chi nhánh

Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov có nhiều chi nhánh tại các nước SNG. Ngoài ra, kể từ năm 2015, một trường đại học liên kết Университет МГУ-ППИ đã hoạt động tại Thâm Quyến, Trung Quốc, được thành lập trên cơ sở MGU của Nga và PPI của Trung Quốc (đây không phải là một chi nhánh chính thức).

Năm 2024, cơ sở duy nhất của trường đại học này tại Slovenia, đặt tại thành phố Koper, được mở vào năm 2017, đã bị đóng cửa. Như hiệu trưởng trường đại học Sadovnichy đã tuyên bố, chi nhánh đã bị đóng cửa theo chỉ đạo ​​của chính phủ Slovenia [48] [49].

  • Chi nhánh tại Sevastopol, được thành lập năm 1999 .
  • Chi nhánh tại Astana ( Kazakhstan ), được thành lập năm 2000 .
  • Chi nhánh tại Tashkent ( Uzbekistan ), được thành lập năm 2006 .
  • Chi nhánh tại Baku ( Azerbaijan ), được thành lập năm 2008 .
  • Chi nhánh tại Dushanbe ( Tajikistan ), được thành lập năm 2009 .
  • Chi nhánh tại Yerevan ( Armenia ), được thành lập vào năm 2015 .
  • Chi nhánh tại Sarov, thành lập năm 2021 .
  • Chi nhánh tại Grozny, được thành lập vào năm 2023.

Trường khoa học và giáo dục liên ngành

Năm 2020, 7 trường khoa học và giáo dục thường trực, НОШ МГУ đã được thành lập tại Đại học Tổng hợp Lomonosov Moscow như một phần của chương trình phát triển đại học [50] [51].

Nguyên tắc chính của việc thành lập các trường này là tổ chức công tác khoa học ở cấp độ liên ngành, tại giao điểm của các ngành khoa học khác nhau. Các trường có hai nhiệm vụ chính: nghiên cứu khoa học từ cơ bản đến hiện đại và đào tạo cán bộ.

Các hoạt động khoa học và giáo dục của các trường khoa học và giáo dục của trường đại học dựa trên hai đòn bẩy chính: tính cơ bản và tính liên ngành.

  • Trường Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng về không gian đào tạo chuyên gia và thực hiện nghiên cứu về: vật chất tối, lý thuyết hấp dẫn, an toàn không gian gần Trái Đất, khám phá và khai phá không gian (như Mặt Trăng).
  • Trường Bảo tồn di sản văn hóa – lịch sử thế giới bảo tồn các giá trị nhân văn trong bối cảnh vai trò ngày càng tăng của trí tuệ nhân tạo.
  • Trường Hệ thống thần kinh, hệ thống nhận thức và trí tuệ nhân tạo tập trung vào các nghiên cứu nền tảng về hoạt động của bộ não, hệ thống nhận thức và phát triển trí tuệ nhân tạo. Đồng thời thu hút nhân tài trẻ và đào tạo chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực AI.
  • Trường Công nghệ phân tử của hệ sinh học và sinh học tổng hợp thực hiện nghiên cứu về công nghệ phân tử và ứng dụng vào thực tiễn.
  • Trường Các phương pháp toán học trong phân tích hệ thống phức tạp nghiên cứu các hệ thống phức tạp trong xã hội – tự nhiên thời kỳ chuyển đổi số và phát triển hệ thống ngữ nghĩa cho các ngành khoa học cơ bản.
  • Trường Công nghệ lượng tử, quang học và y học số nghiên cứu liên ngành về cảm biến lượng tử, truyền thông lượng tử, y học số, vật lý y học bức xạ và quang học sinh học.
  • Trường Tương lai của Trái Đất và biến đổi môi trường toàn cầu hướng đến các vấn đề toàn cầu: biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm, khan hiếm nước, cạn kiệt tài nguyên.

Khuôn viên

Tòa nhà chính

Tòa nhà chính của Đại học Quốc gia Moscow, Главное здание МГУ - ГЗ МГУ, trong các tài liệu chính thức đôi khi được gọi là Главным корпусом МГУ, là tòa nhà trung tâm của khu phức hợp trường đại học thuộc trên Đồi Chim sẻ (Воробьёвых горах). Tòa nhà chọc trời cao nhất trong Bảy tòa nhà được xây dựng theo phong cách Stalin (Сталинских высоток). Chiều cao: 183,2 mét (nếu tỉnh cả đỉnh tháp là 235 mét [52]), số tầng ở tòa nhà trung tâm: 32 tầng [53] [54]. Chiều cao của chân đế so với mực nước biển là 194m [55]. Được xây dựng vào năm 1949-1953 theo thiết kế của các kiến ​​trúc sư Boris Iofan, Lev Rudnev, Sergei Chernyshev, Pavel Abrasimov, Alexander Khryakov và kỹ sư Vsevolod Nasonov. Xưởng của Vera Mukhina phụ trách trang trí điêu khắc cho mặt tiền. Cho đến những năm 1990, tòa nhà này là tòa nhà cao nhất châu Âu [56] [57].

Phần trung tâm (khu «А») có 36 tầng. Văn phòng hiệu trưởng và các dịch vụ và tổ chức chung của trường đại học, hội đồng thanh niên, các khoa cơ học và toán học , địa lý và địa chất, bảo tàng khoa học trái đất, các phòng thí nghiệm và giảng đường chung của trường đại học, thư viện và các cơ sở phục vụ ăn uống đều tọa lạc tại đây.

Từ phần trung tâm, các tòa nhà ký túc xá 18 tầng (khu «Б» và «В») với các tòa tháp cao tới tầng 24 kéo dài. Từ các khu vực này, lần lượt phân ra các khu vực 9 tầng «Г», «Д», «Е» и «Ж», cũng là nơi có nhà trọ và khách sạn. Các tòa tháp liền kề với tòa nhà chính («И», «К», «Л», «М») là nơi có các căn hộ dành cho giáo sư và giáo viên.

Cựu sinh viên nổi tiếng

Trong số những sinh viên tốt nghiệp của trường có những người đoạt giải Nobel , giải thưởng Fields và các chính trị gia lớn, bao gồm cả các nhà lãnh đạo quốc gia.

Những người đoạt giải Nobel Vật lý

  • Igor Evgenievich Tamm
  • Ilya Mikhailovich Frank
  • Vitaly Lazarevich Ginzburg
  • Alexey Alexeevich Abrikosov

Những người đoạt giải Nobel Hóa học

  • Nikolai Nikolaevich Semenov

Những người đoạt giải Nobel Hòa bình

  • Andrei Dmitrievich Sakharov
  • Mikhail Sergeevich Gorbachev

Những người đoạt Huy chương Fields

  • Sergei Petrovich Novikov
  • Grigory Aleksandrovich Margulis
  • Vladimir Gershonovich Drinfeld
  • Maxim Lvovich Kontsevich
  • Vladimir Aleksandrovich Voevodsky
  • Andrey Yuryevich Okounkov

Cựu sinh viên Việt Nam nổi bật

  • Giáo sư Hoàng Tụy tốt nghiệp năm 1959, là một trong hai người tiên phong trong việc xây dựng ngành Toán học của Việt Nam (cùng với Giáo sư Lê Văn Thiêm). Giáo sư Hoàng Tụy được coi là cha đẻ của lĩnh vực Tối ưu hóa toàn cục trong Toán học ứng dụng.
  • Giáo sư Phan Lương Cầm tốt nghiệp năm 1974, phu nhân cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nữ giáo sư - tiến sĩ đầu tiên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Bà là một trong những người sáng lập và Chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học - Kỹ thuật Ăn mòn và Bảo vệ Kim loại Việt Nam.
  • Nhà báo Nguyễn Đăng Phát tốt nghiệp năm 1977, một trong bốn sinh viên Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp ngành báo chí tại MGU, Tổng thư ký Hội hữu nghị Việt-Nga, Nguyên Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam.
  • Giáo sư Nguyễn Đình Đức tốt nghiệp năm 1990, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Việt Nam, Nguyên Chủ tịch Hội đồng trường đầu tiên của Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN.

Giải thưởng và chứng nhận mà Đại học Quốc gia Moscow cấp

Giải thưởng cao nhất của Đại học Moscow, Giải thưởng Lomonosov, được thành lập theo Nghị quyết của Hội đồng Dân ủy Liên Xô vào ngày 29 tháng 5 năm 1944; những người đoạt giải đầu tiên đã được trao giải thưởng vào cùng năm đó [58]. Từ năm 1993, Giải thưởng Lomonosov cũng được trao cho các hoạt động giảng dạy.

Giải thưởng Shuvalov là giải thưởng được trao cho các giáo sư, giảng viên và cán bộ nghiên cứu của Đại học Quốc gia Moscow vì công trình khoa học, được thành lập năm 1993 như một phần của chương trình hỗ trợ thanh thiếu niên tài năng.

Từ năm 1998 [59], 4 loại danh hiệu danh dự đã được đưa vào hệ thống khuyến khích và giải thưởng tại Đại học Tổng hợp Moscow: Giáo sư danh dự, Nghiên cứu viên danh dự, Giáo viên danh dựNhân viên danh dự [60].

Học bổng MGU được trao hàng năm cho giáo viên và cán bộ nghiên cứu của MGU dưới 33 tuổi, có bằng cấp học thuật và đạt được thành tích đáng kể trong lĩnh vực giảng dạy và hoạt động nghiên cứu. Những kết quả này cần được phản ánh trong sách giáo khoa, phương tiện giảng dạy, các phát triển về phương pháp giảng dạy, cũng như trong các ấn phẩm trên các tạp chí và ấn phẩm khoa học hàng đầu được bình duyệt .

Hiệu trưởng

Giai đoạn 1755–1803

  • 1755–1757 — Alexey Mikhailovich Argamakov
  • 1757–1763 — Ivan Ivanovich Melissino
  • 1763–1770 — Mikhail Matveevich Kheraskov
  • 1770–1771 — Anton Antonovich Teil's (quyền giám đốc)
  • 1771–1784 — Mikhail Vasilievich Priklonsky
  • 1784–1796 — Pavel Ivanovich Fonvizin
  • 1796–1803 — Ivan Petrovich Turgenev

Giai đoạn 1803-1917

  • 1803–1805 — Khariton Andreevich Chebotaryov
  • 1805–1807 — Pyotr Ivanovich Strakhov
  • 1807–1808 — Fyodor Grigoryevich Bauze
  • 1808–1819 — Ivan Andreevich Geim
  • 1819–1826 — Anton Antonovich Prokopovich-Antonsky
  • 1826–1833 — Ivan Alekseevich Dvigubsky
  • 1833–1836 — Alexey Vasilievich Boldyrev
  • 1837–1842 — Mikhail Trofimovich Kachenovsky
  • 1842–1848 — Arkady Alekseevich Alfonsky
  • 1848–1850 — Dmitry Matveevich Perevoshchikov
  • 1850–1863 — Arkady Alekseevich Alfonsky (lần 2)
  • 1863–1870 — Sergey Ivanovich Barshev
  • 1871–1877 — Sergey Mikhailovich Solovyov
  • 1877–1883 — Nikolai Savvich Tikhonravov
  • 1883–1887 — Nikolai Pavlovich Bogolepov
  • 1887–1891 — Gavriil Afanasyevich Ivanov
  • 1891–1893 — Nikolai Pavlovich Bogolepov (lần 2)
  • 1893–1898 — Pavel Alekseevich Nekrasov
  • 1898-1898 — Nikolai Andreevich Zverev
  • 1898–1899 — Dmitry Nikolaevich Zernov
  • 1899–1904 — Alexander Andreevich Tikhomirov
  • 1904–1905 — Leonid Kuzmich Lakhtin
  • 1905-1905 — Sergey Nikolaevich Trubetskoy
  • 1905–1911 — Alexander Apollonovich Manuilov
  • 1911–1917 — Matvey Kuzmich Lyubavsky

Giai đoạn 1917-1919

  • 1917–1919 — Mikhail Aleksandrovich Menzbir
  • 1919-1919 — Vladimir Sergeevich Gulevich
  • 1919–1920 — Mikhail Mikhailovich Novikov

Giai đoạn 1920-1921

  • 1920–1921 — Dmitry Petrovich Bogolepov
  • 1921-1921 — Vyacheslav Petrovich Volgin

Giai đoạn 1921-1929

  • 1921–1925 — Vyacheslav Petrovich Volgin
  • 1925–1928 — Andrey Yanuarievich Vyshinsky
  • 1928–1929 — Ivan Dmitrievich Udaltsov (quyền hiệu trưởng)

Giai đoạn 1929-1939

  • 1929–1930 — Ivan Dmitrievich Udaltsov
  • 1930–1934 — Vasily Nikolaevich Kasatkin
  • 1934-1934 — Matvey Georgievich Kadek (quyền giám đốc)
  • 1934–1939 — Alexey Sergeevich Butyagin

Giai đoạn 1939-nay

  • 1939–1941 — Alexey Sergeevich Butyagin
  • 1941–1942 — Boris Pavlovich Orlov (quyền hiệu trưởng – khu vực Moscow)
  • 1941–1942 — Mikhail Mikhailovich Filatov (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad)
  • 1943-1943 — Ilya Savvich Galkin (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad và Sverdlovsk)
  • 1943-1943 — Alexey Sergeevich Butyagin
  • 1943–1947 — Ilya Savvich Galkin
  • 1948–1951 — Alexander Nikolaevich Nesmeyanov
  • 1951–1973 — Ivan Georgievich Petrovsky
  • 1973–1977 — Rem Viktorovich Khokhlov
  • 1977–1992 — Anatoly Alekseevich Logunov
  • 1992-nay — Viktor Antonovich Sadovnichy

Tham khảo

  1. Устав МФТИ
  2. МОСКО́ВСКИЙ ФИ́ЗИКО-ТЕХНИ́ЧЕСКИЙ ИНСТИТУ́Т // Монголы — Наноматериалы. — М. : Большая российская энциклопедия, 2013. — С. 304. — (Большая российская энциклопедия : [в 35 т.] / гл. ред.
  3. Новый корпус МФТИ открыли в Долгопрудном
  4. Р. И. А. Новости. Центр подготовки летчиков создадут в Жуковском на базе МАИ и МФТИ. РИА Новости (7 ноября 2012)
  5. Статистика приёма в МФТИ
  6. Высшая школа экономики: мониторинг качества приёма в российские вузы
  7. От университета Ельцина до альма-матер Путина: 20 лучших российских вузов по версии Forbes
  8. МФТИ вошел в топ-100 рейтинга университетов мира
  9. МФТИ попал в топ-50 всемирного рейтинга по физическим наукам
  10. МФТИ и еще десять вузов получат по ₽1 млрд от государства
  11. Физтех — снова в числе лидеров Проекта 5-100
  12. В проекте поддержки ведущих вузов России «5-100» сохранил место 21 вуз
  13. Мои воспоминания — Сергей Петрович Капица, Е. Л. Капица, Татьяна Балаховская — Росспэн, 2008. — ISBN 978-5-8243-0976-8
  14. Общая информация — МФТИ
  15. Общая информация — МФТИ
  16. Из воспоминаний об НГУ. «Университетская жизнь». Новосибирский государственный университет (1984). — «Создание университетской системы логически связано с опытом Московского Физико-технического института».
  17. Історія. Фізико-Технічний Інститут. — «Фізтехівська система освіти в колишньому СРСР впроваджена лауреатом Нобелевської премії академіком Капіцею П. Л. в Московському фізико-технічному iнститутi (МФТI)»
  18. Сост.: Шомполов И. Г. Заметки о Физтехе и физтехах. — 8-е издание, переработанное и дополненное. — М.: МФТИ, 2005. — 88 с. — ISBN 5-7417-0251-1.
  19. Перечень олимпиад школьников на 2012/2013 учебный год Министерство образования и науки Российской Федерации (31 октября 2012)
  20. Уровни олимпиад школьников, включённых в Перечень олимпиад школьников на 2011/2012 учебный год. Министерство образования и науки Российской Федерации (4 мая 2012).
  21. Правила приёма в 2013 году. Московский физико-технический институт (27 декабря 2012)
  22. Щука А. А. Физтех и физтехи. — 3-е изд., пер. и доп. — М.: Физтех-полиграф, 2010. — 382 с. — ISBN 978-5-91333-009-3, с. 15—17.
  23. VIVOS VOCO: Н. В. Карлов, Н. Н. Кудрявцев, «К истории элитного инженерного образования»
  24. Московский Физтех. КНИГА–МУЗЕЙ. Глава V. Реализация
  25. Щука А. А. Физтех и физтехи. — 3-е изд., пер. и доп. — М.: Физтех-полиграф, 2010. — 382 с. — ISBN 978-5-91333-009-3, с. 22.
  26. Щука А. А. Физтех и физтехи. — 3-е изд., пер. и доп. — М.: Физтех-полиграф, 2010. — 382 с. — ISBN 978-5-91333-009-3, с. 22.
  27. За науку : Физтеху 75 лет: хроника рождения и жизни
  28. История Физтеха
  29. Постановление Кабинета Министров Украины от 23 октября 2003 года № 1660-2003-п «О награждении Почётной грамотой Кабинета Министров Украины»
  30. Постановление Правительства от 23 августа 2017 года № 1792-р
  31. МФТИ стал центром НТИ по направлению «Искусственный интеллект»
  32. МФТИ открыл первое представительство в Китае
  33. World Reputation Rankings Times Higher Education (THE) 30 мая 2018.
  34. World University Rankings Times Higher Education (THE) 26 сентября 2018.
  35. Out Now: QS World University Rankings by Subject 2019 Top Universities (26 февраля 2019)
  36. Билык, Кирилл. HeadHunter составил рейтинг лучших российских вузов 2022 года
  37. Федеральный закон от 10.11.2009 г. № 259-ФЗ. Сайт Президента России (10 ноября 2009)
  38. В МГУ будут обучать студентов в течение шести лет
  39. В МГУ появятся семь научных школ. ТАСС (7 октября 2020)
  40. Для студентов очной формы обучения третьих и четвёртых курсов, обучающихся по программам специалитета, третьего курса бакалавриата и первого курса магистратуры.
  41. Межфакультетские учебные курсы Московского государственного университета имени М. В. Ломоносова
  42. Учреждение носило название «Специализированная школа-интернат № 18 физико-математического профиля при Московском государственном университете им. М. В. Ломоносова» или ФМШ-18 (1963—1988).
  43. Постановление Совета Министров СССР № 1241 от 21.10.1988
  44. Французский колледж при МГУ: наука и культура вопреки политике
  45. Французский университетский колледж отметил юбилей
  46. Французский университетский колледж МГУ
  47. Французский университетский колледж отметил 25-й юбилей
  48. В Словении закрыли единственный европейский филиал МГУ
  49. Ректор МГУ сообщил о закрытии филиала вуза в Словении
  50. В МГУ появятся семь научных школ
  51. В МГУ появятся 7 новых научно-образовательных школ
  52. Янковский Р. М. Высотка номер один: история и архитектура Главного здания МГУ. — М.: Бомбора, 2021. — 184 с. — 1500 экз. — ISBN 978-5-04-116390-7, с. 109.
  53. Сталинские высотные здания
  54. Николай Кружков Из истории московских небоскребов. Все московские высотки были заложены в один день. Главному зданию МГУ – 50 лет
  55. Главное здание Московского университета. Географический факультет МГУ имени М. В. Ломоносова
  56. Сталинские высотки — Главное здание Московского государственного университета
  57. Филипп Алексенко, Анна Ким. Как строились сталинские высотки
  58. Премия имени М. В. Ломоносова
  59. Решение Учёного Совета МГУ от 7 декабря 1997 года.
  60. Положение о присвоении почётных званий МГУ