Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia MEPhI
| ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU HẠT NHÂN QUỐC GIA MEPHI | ||
| Национальный исследовательский ядерный университет «МИФИ» | ||
| НИЯУ МИФИ | ||
| Tên quốc tế | National Research Nuclear University MEPhI (Moscow Engineering Physics Institute) | |
|---|---|---|
| Tên viết tắt | МИФИ, MIFI, MEPhI | |
| Tên cũ | - Viện Cơ khí Đạn dược Moscow, - Viện Cơ khí Moscow, - Viện Vật lý Hạt nhân Moscow, - Viện Vật lý Hạt nhân Quốc gia Moscow (Đại học Kỹ thuật), - Viện Vật lý Hạt nhân Moscow (Đại học Nhà nước) | |
| Tiêu ngữ | Дорогу осилит идущий Viam supervadet vadens Người đi thì sẽ đến đích | |
| Thành lập | 13 Tháng Mười Một, 1942 | |
| Địa chỉ | 115409, Москва, Каширское ш., 31 | |
| Website | mephi.ru | |
| Sinh viên | 39.282 (2024) [1] | |
| Sv đại học | 6.759 (2023) | |
| Sv quốc tế | ||
| Thành tích | ||
| Huân chương Cờ đỏ Lao động (Liên Xô) Huân chương Hữu nghị (Việt Nam) [2] |
||
Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia MEPhI (tiếng Nga: Национальный исследовательский ядерный университет «МИФИ») là một trong hai trường đại học nghiên cứu quốc gia đầu tiên tại Nga (cùng với Đại học MISiS), được thành lập vào ngày 8 tháng 4 năm 2009 trên cơ sở Đại học Vật lý Hạt nhân MIFI (tên tiếng Nga: Московского инженерно-физического института (государственного университета)) [3].
MEPhI có lịch sử bắt nguồn từ Viện Cơ khí Đạn dược Moscow, được thành lập vào ngày 23 tháng 11 năm 1942. Các lớp học bắt đầu vào ngày 1 tháng 1 năm 1943. Địa chỉ đầu tiên của Viện là Phố Kirov (nay là Phố Myasnitskaya) trong Dinh thự Yushkov nổi tiếng. Mục tiêu ban đầu của Viện là đào tạo các chuyên gia cho các chương trình quân sự và hạt nhân của Liên Xô.
Có một lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân dạng hồ bơi trong khuôn viên trường đại học. Năm 2024, sau thời gian dài ngừng hoạt động (hơn 13 năm), lò phản ứng này đã tiếp tục hoạt động [4].
Trường đại học này là trường đại học hàng đầu của các Tập đoàn Nhà nước là Rosatom [5] và Roscosmos [6], đồng thời cũng là đối tác của Rosfinmonitoring và Kaspersky Lab .
Là một đơn vị tham gia Проекта 5-100 [7] (một dự án nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường đại học hàng đầu của Nga trong số các trung tâm khoa học và giáo dục hàng đầu thế giới), theo kết quả phân tích báo cáo của những đơn vị tham gia dự án năm 2017, đây là một trong 8 đơn vị dẫn đầu [8].
Cùng với Học viện Ngoại thương Nga, MEPhI đã khởi xướng chương trình giáo dục “bằng kép” trong các lĩnh vực “Vật lý và Công nghệ hạt nhân” và “Kinh tế” [9].
Lịch sử
Ngày 23 tháng 11 năm 1942, Nghị quyết số 1871-872 của Hội đồng Dân ủy Liên Xô đã được ký kết về việc thành lập Viện Cơ khí Đạn dược Moscow (tiếng Nga: Московского механического института боеприпасов (ММИБ)) thuộc Bộ Dân ủy Đạn dược trên cơ sở Nhà máy Đạn dược Moscow số 398. Viện được trao lại các tòa nhà của Viện In ấn Moscow đã sơ tán - ngôi nhà số 21 (Dinh thự Yushkov) trên phố Kirov (nay là phố Myasnitskaya).
Tổng diện tích được phân bổ cho Viện Cơ khí Đạn dược Moscow là 10.810 m², bao gồm 9 phòng học, 13 phòng làm việc, 2 phòng khách, 1 xưởng gia công kim loại và cơ khí, 1 phòng tập thể dục và 1 phòng giải trí. Một khẩu pháo 75mm được đặt trong hội trường dưới mái kính. Khi đó, hệ thống sưởi ấm, cấp nước và thoát nước thải không hoạt động, và điện cũng chỉ được cung cấp 4 giờ mỗi ngày.
Viện được thành lập với ba khoa: Khoa Ống và kíp nổ; Khoa Đạn pháo, mìn, bom trên không; Khoa Đạn và Vỏ đạn. Ngoài ra còn có 21 bộ môn chuyên ngành. Tổng số giảng viên ban đầu là 101 người. Quyền Giám đốc đầu tiên của Viện là ông Aleksei Dygern, nguyên Giám đốc Viện In ấn, và quyền Phó giám đốc là ông Leonid Bakhmetyev, nguyên Phó Giám đốc Viện In ấn [10].
Ngày 1 tháng 4 năm 1943, kỹ sư Anton Fomenko được bổ nhiệm làm Giám đốc chính thức đầu tiên. Năm 1944, Viện tiếp nhận thêm tòa nhà số 12 trên phố Malaya Pionerskaya. Đợt tốt nghiệp đầu tiên diễn ra vào mùa xuân năm 1945 [11].
Ngày 16 tháng 1 năm 1945, Viện được đổi tên thành Viện Cơ khí Moscow. Năm 1952, theo Sắc lệnh của Chính phủ Liên Xô, 4 chi nhánh đầu tiên của viện được thành lập tại các thành phố hạt nhân khép kín (Ozersk, Novouralsk, Lesnoy, Sarov) nhằm đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp hạt nhân [12].
Ngày 28 tháng 10 năm 1953, Viện đổi tên thành Viện Vật lý Hạt nhân Moscow (MIFI). Năm 1962, khu phức hợp tòa nhà MEPhI tại đường Kashirskoye bắt đầu đi vào hoạt động. Năm 1967, lò phản ứng nghiên cứu của MEPhI được đưa vào vận hành [13].
Ngày 22 tháng 11 năm 1993, theo quyết định của Ủy ban Nhà nước về Giáo dục Đại học Liên bang Nga, tên gọi được đổi thành Viện Vật lý Hạt nhân Quốc gia Moscow (Đại học Kỹ thuật).
Ngày 13 tháng 12 năm 2001, theo lệnh của Bộ Giáo dục Liên bang Nga, tên gọi được đổi thành Viện Vật lý Hạt nhân Quốc gia Moscow (Đại học Quốc gia) [14].
Tháng 4 năm 2009, theo quyết định của Chính phủ Nga, trường được đổi tên thành Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia MEPhI, đồng thời được tái cơ cấu bằng cách sáp nhập 5 cơ sở giáo dục đại học và 12 cơ sở giáo dục nghề trung cấp nằm tại các thành phố có sự hiện diện của Tập đoàn Năng lượng hạt nhân Liên bang Nga ROSATOM [15].
Uy tín và Xếp hạng
| Xếp hạng thế giới | 2015 | 2020 | 2025 |
|---|---|---|---|
| ShanghaiRanking’s ARWU | 86 | 93 | |
| QS World University Rankings | 114 | 84 | |
| «Три миссии университета» | – | 21 | |
| Xếp hạng khu vực | 2015 | 2020 | 2025 |
| QS University Rankings: BRICS | 3 | 6 | |
| QS Emerging Europe & Central Asia | – | 1 | |
| Xếp hạng trong nước | 2015 | 2020 | 2025 |
| Interfax (Интерфакс) | 1 | 1 | |
| RAEX | – | 1 |
Năm 2018, Đại học Quốc gia Moscow xếp thứ 199 trong Times Higher Education World University Rankings và thứ 33 trong bảng xếp hạng danh tiếng [16] [17]
Năm 2019, Đại học Quốc gia Moscow đã lọt vào TOP-50 QS World University Rankings by Subject ở năm chuyên ngành cùng một lúc: Ngôn ngữ học (vị trí thứ 21), Vật lý và Thiên văn học (vị trí thứ 26), Ngôn ngữ đương đại (vị trí thứ 33), Toán học (vị trí thứ 34) và Khoa học máy tính (vị trí thứ 48) [18].
Năm 2022, Đại học Tổng hợp Moscow đứng thứ 5 trong bảng xếp hạng các trường đại học tốt nhất của Nga về nhu cầu của sinh viên theo HeadHunter [19].
Hoạt động giáo dục
Theo Luật Liên bang Số 259-ФЗ ngày 10/11/2009, Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov được trao quyền thực hiện các chương trình giáo dục đại học được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn giáo dục do trường tự thiết lập. Ngoài ra, theo luật này, Đại học Quốc gia Moscow được quyền cấp cho những người đã hoàn thành chương trình đào tạo tại các chương trình giáo dục do trường đại học thực hiện các văn bằng giáo dục có ký hiệu chính thức của Liên bang Nga, được chứng nhận bằng con dấu của Đại học Quốc gia Moscow, mẫu văn bằng này do chính trường chấp thuận. Các văn bản giáo dục do Đại học Quốc gia Moscow cấp theo luật định cung cấp cho người sở hữu các văn bản này những quyền tương tự như những quyền được cung cấp cho người sở hữu các văn bản giáo dục do các trường đại học công lập của Liên bang Nga cấp [20].
Từ năm 2011, Đại học Quốc gia Moscow đã triển khai chương trình đào tạo tích hợp kéo dài 6 năm. Các hình thức đào tạo chính tại Đại học Quốc gia Moscow là chuyên gia, thạc sĩ và cử nhân. Chương trình của MGU khác với các chương trình của các cơ sở giáo dục đại học khác của Nga, từ năm 2011 đã chuyển sang đào tạo theo các nguyên tắc của Công ước Bologna, trong đó bao gồm việc chia thành các chương trình cấp bằng cử nhân và thạc sĩ. Các trường đại học Nga đào tạo bằng cử nhân trong bốn năm và bằng thạc sĩ trong hai năm. Các chuyên gia đã đánh giá những quyết định này của Đại học Quốc gia Moscow một cách mơ hồ [21].
Là một phần của chương trình phát triển mới của Đại học Quốc gia Moscow (2020-2030), người ta có kế hoạch thành lập 7 trường khoa học và giáo dục để tập hợp các nhóm nhà khoa học từ các khoa khác nhau [22]:
- Không gian;
- Bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử thế giới;
- Hệ thống thần kinh, hệ thống nhận thức, trí tuệ nhân tạo;
- Phương pháp toán học phân tích các hệ thống phức tạp;
- Công nghệ phân tử của hệ thống sống và sinh học tổng hợp;
- Công nghệ quang tử và lượng tử. Y học kỹ thuật số;
- Tương lai của hành tinh: Giám sát môi trường toàn cầu.
Các trường khoa học bắt đầu đào tạo cán bộ và tiến hành nghiên cứu khoa học từ năm 2021.
Các khóa học liên khoa
Khóa đào tạo liên khoa của Đại học Quốc gia Moscow (Межфакультетский учебный курс МГУ - МФК МГУ) — khóa học kéo dài một học kỳ do các giáo viên của Đại học Moscow là chuyên gia trong lĩnh vực của họ giảng dạy. Mục đích của các khóa học là mô tả mối quan hệ giữa các lĩnh vực kiến thức khác nhau: khoa học, nghệ thuật, chính trị, văn hóa, quá trình xã hội và công cộng. Các nhà khoa học hàng đầu trong và ngoài nước không phải là cán bộ của trường đại học được mời đến giảng bài. Việc thành thạo МФК là một phần không thể thiếu trong quá trình đào tạo sinh viên MGU và việc hoàn thành nó là bắt buộc [23]. Thông tin về các МФК mà sinh viên đã hoàn thành được đưa vào phần bổ sung bằng tốt nghiệp [24].
Cấu trúc
Khoa
Dưới đây là danh sách các khoa của Đại học Quốc gia Moscow hiện đang hoạt động, và lịch sử hình thành của các khoa đó
| Giai đoạn | Tên khoa (tiếng Nga) | Tên khoa (dịch tiếng Việt) | Năm thành lập |
|---|---|---|---|
| 1755-1929 | Философский факультет | Khoa Triết học | 1755 |
| Юридический факультет | Khoa Luật | 1755 | |
| Медицинский факультет | Khoa Y | 1755 | |
| 1929–1941 | Химический факультет | Khoa Hóa học | 1929 |
| Биологический факультет | Khoa Sinh học | 1930 | |
| Механико-математический факультет | Khoa Cơ học và Toán học | 1933 | |
| Физический факультет | Khoa Vật lý | 1933 | |
| Исторический факультет | Khoa Lịch sử | 1934 | |
| Геологический факультет | Khoa Địa chất | 1938 | |
| Географический факультет | Khoa Địa lý | 1938 | |
| Филологический факультет | Khoa Ngữ văn | 1941 | |
| Экономический факультет | Khoa Kinh tế | 1941 | |
| 1952–1973 | Факультет журналистики | Khoa Báo chí | 1952 |
| Институт стран Азии и Африки (ИСАА) | Viện các nước châu Á và châu Phi (ISAA) | 1956 | |
| Факультет психологии | Khoa Tâm lý học | 1966 | |
| Факультет вычислительной математики и кибернетики (ВМК) | Khoa Toán tin và Điều khiển học (VMK) | 1970 | |
| Факультет почвоведения | Khoa Thổ nhưỡng học | 1973 | |
| 1988–1995 | Факультет иностранных языков и регионоведения (ФИЯР) | Khoa Ngoại ngữ và Nghiên cứu Khu vực | 1988 |
| Социологический факультет | Khoa Xã hội học | 1989 | |
| Факультет наук о материалах (ФНМ) | Khoa Khoa học Vật liệu | 1991 | |
| Факультет фундаментальной медицины (ФФМ) | Khoa Y học Cơ bản | 1992 | |
| Факультет государственного управления (ФГУ) | Khoa Quản lý Nhà nước | 1993 | |
| Факультет военного обучения | Khoa Đào tạo Quân sự | 1995 | |
| Sau 1997 | Факультет педагогического образования (ФПО) | Khoa Sư phạm | 1997 |
| Факультет искусств | Khoa Nghệ thuật | 2001 | |
| Факультет биоинженерии и биоинформатики (ФББ) | Khoa Công nghệ Sinh học và Tin sinh học | 2002 | |
| Факультет мировой политики (ФМП) | Khoa Chính trị Thế giới | 2003 | |
| Факультет глобальных процессов (ФГП) | Khoa Các quá trình toàn cầu | 2005 | |
| Факультет политологии | Khoa Khoa học Chính trị | 2008 | |
| Факультет фундаментальной физико-химической инженерии (ФФФХИ) | Khoa Kỹ thuật Vật lý-Hóa học Cơ bản | 2011 | |
| Биотехнологический факультет | Khoa Công nghệ Sinh học | 2013 | |
| Факультет космических исследований МГУ (ФКИ) | Khoa Nghiên cứu Vũ trụ MGU | 2017 |
Trường đại học
Các trường đại học thành viên có chức năng và quyền hạn ngang với các khoa của Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov.
- Trường đại học Kinh doanh, ВШБ МГУ. Đào tạo sinh viên bậc cử nhân, thạc sĩ, MBA và MBA điều hành trong lĩnh vực Quản lý. Thành lập năm 2001.
- Trường đại học Kinh tế Moscow, МШЭ МГУ. Đào tạo cử nhân ngành Kinh tế, thạc sĩ các chuyên ngành “Lý thuyết kinh tế và các vấn đề của nước Nga hiện đại” và “Chiến lược kinh tế và tài chính”. Thành lập năm 2004.
- Trường đại học Quản trị Nhà nước, ВШГА МГУ. Đào tạo cán bộ chuyên môn cho lĩnh vực hành chính nhà nước. Thành lập năm 2005.
- Trường đại học Biên dịch, ВШП МГУ. Đào tạo chuyên gia biên dịch chuyên nghiệp, thành thạo công nghệ biên dịch hiện đại.
- Trường đại học Kiểm toán Nhà nước, ВШГА МГУ. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực tài chính công, kiểm soát tài chính ở cấp liên bang, khu vực và địa phương, cũng như kiểm toán nội bộ và tổ chức kiểm toán.
- Trường đại học Truyền hình, ВШТ МГУ. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực truyền hình và báo chí: phóng viên, người dẫn chương trình, nhà sản xuất, đạo diễn, biên kịch, biên tập viên, phóng viên ảnh, nhà phê bình truyền hình. Thành lập năm 2006.
- Trường đại học Khoa học Xã hội Đương đại, ВШССН МГУ. Đào tạo chuyên gia trong các lĩnh vực xã hội học, kinh tế tri thức, quản lý và kiểm soát xã hội, triết học xã hội và văn hóa học. Thành lập năm 2006.
- Trường đại học Quản trị và Đổi mới. Đào tạo kỹ sư thiết kế, chuyên gia công nghệ, tổ chức sản xuất, quản lý dự án khoa học-công nghệ cao. Thành lập năm 2006.
- Trường đại học Kinh doanh Đổi mới. Đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thăm dò, khai thác và chế biến tài nguyên hydrocacbon, quản lý tài nguyên thiên nhiên. Thành lập năm 2006.
- Trường đại học Chính sách Văn hóa và Quản lý trong lĩnh vực Nhân văn, ВШКПиУГС МГУ. Đào tạo chuyên gia quản lý, sản xuất và lãnh đạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và thể thao. Thành lập năm 2011.
Trung tâm
- Khoa dự bị MGU được thành lập vào năm 1969 nhằm nâng cao trình độ giáo dục chung cho những thanh niên cần được bảo trợ và hỗ trợ của nhà nước trước khi học đại học.
- Trung tâm khoa học và giáo dục chuyên môn MGU, СУНЦ МГУ được thành lập năm 1988 trên cơ sở trường nội trú Kolmogorov [25] [26], đào tạo lớp 10 và lớp 11.
- Trường chuyên nội trú УГ МГУ là trường nội trú, một đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Moscow, được thành lập vào ngày 1 tháng 9 năm 2016. Chương trình đào tạo tại trường được chia thành 5 hướng chuyên: toán học, kỹ thuật, khoa học tự nhiên, nhân văn và kinh tế xã hội.
- Trường Sau đại học Pháp, Французский университетский колледж là một cơ sở giáo dục đại học nhà nước được thành lập năm 1991 tại Đại học Quốc gia Moscow [27]. Khóa học kéo dài hai năm tại trường cao đẳng cung cấp cơ hội để lấy bằng kép, được công nhận tại Pháp, tương đương với việc hoàn thành một năm bằng thạc sĩ [28] trong một trong các ngành nhân văn sau: luật, lịch sử, xã hội học, văn học và triết học [29]. Năm 2016, Đại học Pháp tại Moscow đã kỷ niệm 25 năm thành lập [30].
Viện nghiên cứu
- Viện Nghiên cứu Khoa học Vật lý Hạt nhân mang tên Skobeltsyn
- Viện Cơ học
- Viện Thiên văn Nhà nước mang tên Shternberg
- Viện Nghiên cứu Khoa học Sinh học Lý-Hóa mang tên Belozersky
- Trung tâm Máy tính Nghiên cứu Khoa học
- Viện Các vấn đề lý thuyết của thế giới vi mô mang tên Bogolyubov
- Viện Nghiên cứu Toán học các Hệ thống phức tạp
- Viện Nghiên cứu và Bảo tàng Nhân học mang tên Anuchin
- Viện Sinh thái học Thổ nhưỡng
- Viện Văn hóa Thế giới
- Viện Khoa học và Văn hóa Nga-Đức
- Viện Các vấn đề về An ninh Thông tin
- Viện Vật lý Lý thuyết và Toán học
- Viện Bồi dưỡng và Tái đào tạo Giảng viên Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chi nhánh
Đại học Quốc gia Moscow mang tên Lomonosov có nhiều chi nhánh tại các nước SNG. Ngoài ra, kể từ năm 2015, một trường đại học liên kết Университет МГУ-ППИ đã hoạt động tại Thâm Quyến, Trung Quốc, được thành lập trên cơ sở MGU của Nga và PPI của Trung Quốc (đây không phải là một chi nhánh chính thức).
Năm 2024, cơ sở duy nhất của trường đại học này tại Slovenia, đặt tại thành phố Koper, được mở vào năm 2017, đã bị đóng cửa. Như hiệu trưởng trường đại học Sadovnichy đã tuyên bố, chi nhánh đã bị đóng cửa theo chỉ đạo của chính phủ Slovenia [31] [32].
- Chi nhánh tại Sevastopol, được thành lập năm 1999 .
- Chi nhánh tại Astana ( Kazakhstan ), được thành lập năm 2000 .
- Chi nhánh tại Tashkent ( Uzbekistan ), được thành lập năm 2006 .
- Chi nhánh tại Baku ( Azerbaijan ), được thành lập năm 2008 .
- Chi nhánh tại Dushanbe ( Tajikistan ), được thành lập năm 2009 .
- Chi nhánh tại Yerevan ( Armenia ), được thành lập vào năm 2015 .
- Chi nhánh tại Sarov, thành lập năm 2021 .
- Chi nhánh tại Grozny, được thành lập vào năm 2023.
Trường khoa học và giáo dục liên ngành
Năm 2020, 7 trường khoa học và giáo dục thường trực, НОШ МГУ đã được thành lập tại Đại học Tổng hợp Lomonosov Moscow như một phần của chương trình phát triển đại học [33] [34].
Nguyên tắc chính của việc thành lập các trường này là tổ chức công tác khoa học ở cấp độ liên ngành, tại giao điểm của các ngành khoa học khác nhau. Các trường có hai nhiệm vụ chính: nghiên cứu khoa học từ cơ bản đến hiện đại và đào tạo cán bộ.
Các hoạt động khoa học và giáo dục của các trường khoa học và giáo dục của trường đại học dựa trên hai đòn bẩy chính: tính cơ bản và tính liên ngành.
- Trường Nghiên cứu cơ bản và ứng dụng về không gian đào tạo chuyên gia và thực hiện nghiên cứu về: vật chất tối, lý thuyết hấp dẫn, an toàn không gian gần Trái Đất, khám phá và khai phá không gian (như Mặt Trăng).
- Trường Bảo tồn di sản văn hóa – lịch sử thế giới bảo tồn các giá trị nhân văn trong bối cảnh vai trò ngày càng tăng của trí tuệ nhân tạo.
- Trường Hệ thống thần kinh, hệ thống nhận thức và trí tuệ nhân tạo tập trung vào các nghiên cứu nền tảng về hoạt động của bộ não, hệ thống nhận thức và phát triển trí tuệ nhân tạo. Đồng thời thu hút nhân tài trẻ và đào tạo chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực AI.
- Trường Công nghệ phân tử của hệ sinh học và sinh học tổng hợp thực hiện nghiên cứu về công nghệ phân tử và ứng dụng vào thực tiễn.
- Trường Các phương pháp toán học trong phân tích hệ thống phức tạp nghiên cứu các hệ thống phức tạp trong xã hội – tự nhiên thời kỳ chuyển đổi số và phát triển hệ thống ngữ nghĩa cho các ngành khoa học cơ bản.
- Trường Công nghệ lượng tử, quang học và y học số nghiên cứu liên ngành về cảm biến lượng tử, truyền thông lượng tử, y học số, vật lý y học bức xạ và quang học sinh học.
- Trường Tương lai của Trái Đất và biến đổi môi trường toàn cầu hướng đến các vấn đề toàn cầu: biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm, khan hiếm nước, cạn kiệt tài nguyên.
Khuôn viên

Tòa nhà chính
Tòa nhà chính của Đại học Quốc gia Moscow, Главное здание МГУ - ГЗ МГУ, trong các tài liệu chính thức đôi khi được gọi là Главным корпусом МГУ, là tòa nhà trung tâm của khu phức hợp trường đại học thuộc trên Đồi Chim sẻ (Воробьёвых горах). Tòa nhà chọc trời cao nhất trong Bảy tòa nhà được xây dựng theo phong cách Stalin (Сталинских высоток). Chiều cao: 183,2 mét (nếu tỉnh cả đỉnh tháp là 235 mét [35]), số tầng ở tòa nhà trung tâm: 32 tầng [36] [37]. Chiều cao của chân đế so với mực nước biển là 194m [38]. Được xây dựng vào năm 1949-1953 theo thiết kế của các kiến trúc sư Boris Iofan, Lev Rudnev, Sergei Chernyshev, Pavel Abrasimov, Alexander Khryakov và kỹ sư Vsevolod Nasonov. Xưởng của Vera Mukhina phụ trách trang trí điêu khắc cho mặt tiền. Cho đến những năm 1990, tòa nhà này là tòa nhà cao nhất châu Âu [39] [40].
Phần trung tâm (khu «А») có 36 tầng. Văn phòng hiệu trưởng và các dịch vụ và tổ chức chung của trường đại học, hội đồng thanh niên, các khoa cơ học và toán học , địa lý và địa chất, bảo tàng khoa học trái đất, các phòng thí nghiệm và giảng đường chung của trường đại học, thư viện và các cơ sở phục vụ ăn uống đều tọa lạc tại đây.
Từ phần trung tâm, các tòa nhà ký túc xá 18 tầng (khu «Б» và «В») với các tòa tháp cao tới tầng 24 kéo dài. Từ các khu vực này, lần lượt phân ra các khu vực 9 tầng «Г», «Д», «Е» и «Ж», cũng là nơi có nhà trọ và khách sạn. Các tòa tháp liền kề với tòa nhà chính («И», «К», «Л», «М») là nơi có các căn hộ dành cho giáo sư và giáo viên.
Cựu sinh viên nổi tiếng
Trong số những sinh viên tốt nghiệp của trường có những người đoạt giải Nobel , giải thưởng Fields và các chính trị gia lớn, bao gồm cả các nhà lãnh đạo quốc gia.
Những người đoạt giải Nobel Vật lý
- Igor Evgenievich Tamm
- Ilya Mikhailovich Frank
- Vitaly Lazarevich Ginzburg
- Alexey Alexeevich Abrikosov
Những người đoạt giải Nobel Hóa học
- Nikolai Nikolaevich Semenov
Những người đoạt giải Nobel Hòa bình
- Andrei Dmitrievich Sakharov
- Mikhail Sergeevich Gorbachev
Những người đoạt Huy chương Fields
- Sergei Petrovich Novikov
- Grigory Aleksandrovich Margulis
- Vladimir Gershonovich Drinfeld
- Maxim Lvovich Kontsevich
- Vladimir Aleksandrovich Voevodsky
- Andrey Yuryevich Okounkov
Cựu sinh viên Việt Nam nổi bật
- Giáo sư Hoàng Tụy tốt nghiệp năm 1959, là một trong hai người tiên phong trong việc xây dựng ngành Toán học của Việt Nam (cùng với Giáo sư Lê Văn Thiêm). Giáo sư Hoàng Tụy được coi là cha đẻ của lĩnh vực Tối ưu hóa toàn cục trong Toán học ứng dụng.
- Giáo sư Phan Lương Cầm tốt nghiệp năm 1974, phu nhân cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nữ giáo sư - tiến sĩ đầu tiên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Bà là một trong những người sáng lập và Chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học - Kỹ thuật Ăn mòn và Bảo vệ Kim loại Việt Nam.
- Nhà báo Nguyễn Đăng Phát tốt nghiệp năm 1977, một trong bốn sinh viên Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp ngành báo chí tại MGU, Tổng thư ký Hội hữu nghị Việt-Nga, Nguyên Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam.
- Giáo sư Nguyễn Đình Đức tốt nghiệp năm 1990, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Việt Nam, Nguyên Chủ tịch Hội đồng trường đầu tiên của Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN.
Giải thưởng và chứng nhận mà Đại học Quốc gia Moscow cấp
Giải thưởng cao nhất của Đại học Moscow, Giải thưởng Lomonosov, được thành lập theo Nghị quyết của Hội đồng Dân ủy Liên Xô vào ngày 29 tháng 5 năm 1944; những người đoạt giải đầu tiên đã được trao giải thưởng vào cùng năm đó [41]. Từ năm 1993, Giải thưởng Lomonosov cũng được trao cho các hoạt động giảng dạy.
Giải thưởng Shuvalov là giải thưởng được trao cho các giáo sư, giảng viên và cán bộ nghiên cứu của Đại học Quốc gia Moscow vì công trình khoa học, được thành lập năm 1993 như một phần của chương trình hỗ trợ thanh thiếu niên tài năng.
Từ năm 1998 [42], 4 loại danh hiệu danh dự đã được đưa vào hệ thống khuyến khích và giải thưởng tại Đại học Tổng hợp Moscow: Giáo sư danh dự, Nghiên cứu viên danh dự, Giáo viên danh dự và Nhân viên danh dự [43].
Học bổng MGU được trao hàng năm cho giáo viên và cán bộ nghiên cứu của MGU dưới 33 tuổi, có bằng cấp học thuật và đạt được thành tích đáng kể trong lĩnh vực giảng dạy và hoạt động nghiên cứu. Những kết quả này cần được phản ánh trong sách giáo khoa, phương tiện giảng dạy, các phát triển về phương pháp giảng dạy, cũng như trong các ấn phẩm trên các tạp chí và ấn phẩm khoa học hàng đầu được bình duyệt .
Hiệu trưởng
Giai đoạn 1755–1803
- 1755–1757 — Alexey Mikhailovich Argamakov
- 1757–1763 — Ivan Ivanovich Melissino
- 1763–1770 — Mikhail Matveevich Kheraskov
- 1770–1771 — Anton Antonovich Teil's (quyền giám đốc)
- 1771–1784 — Mikhail Vasilievich Priklonsky
- 1784–1796 — Pavel Ivanovich Fonvizin
- 1796–1803 — Ivan Petrovich Turgenev
Giai đoạn 1803-1917
- 1803–1805 — Khariton Andreevich Chebotaryov
- 1805–1807 — Pyotr Ivanovich Strakhov
- 1807–1808 — Fyodor Grigoryevich Bauze
- 1808–1819 — Ivan Andreevich Geim
- 1819–1826 — Anton Antonovich Prokopovich-Antonsky
- 1826–1833 — Ivan Alekseevich Dvigubsky
- 1833–1836 — Alexey Vasilievich Boldyrev
- 1837–1842 — Mikhail Trofimovich Kachenovsky
- 1842–1848 — Arkady Alekseevich Alfonsky
- 1848–1850 — Dmitry Matveevich Perevoshchikov
- 1850–1863 — Arkady Alekseevich Alfonsky (lần 2)
- 1863–1870 — Sergey Ivanovich Barshev
- 1871–1877 — Sergey Mikhailovich Solovyov
- 1877–1883 — Nikolai Savvich Tikhonravov
- 1883–1887 — Nikolai Pavlovich Bogolepov
- 1887–1891 — Gavriil Afanasyevich Ivanov
- 1891–1893 — Nikolai Pavlovich Bogolepov (lần 2)
- 1893–1898 — Pavel Alekseevich Nekrasov
- 1898-1898 — Nikolai Andreevich Zverev
- 1898–1899 — Dmitry Nikolaevich Zernov
- 1899–1904 — Alexander Andreevich Tikhomirov
- 1904–1905 — Leonid Kuzmich Lakhtin
- 1905-1905 — Sergey Nikolaevich Trubetskoy
- 1905–1911 — Alexander Apollonovich Manuilov
- 1911–1917 — Matvey Kuzmich Lyubavsky
Giai đoạn 1917-1919
- 1917–1919 — Mikhail Aleksandrovich Menzbir
- 1919-1919 — Vladimir Sergeevich Gulevich
- 1919–1920 — Mikhail Mikhailovich Novikov
Giai đoạn 1920-1921
- 1920–1921 — Dmitry Petrovich Bogolepov
- 1921-1921 — Vyacheslav Petrovich Volgin
Giai đoạn 1921-1929
- 1921–1925 — Vyacheslav Petrovich Volgin
- 1925–1928 — Andrey Yanuarievich Vyshinsky
- 1928–1929 — Ivan Dmitrievich Udaltsov (quyền hiệu trưởng)
Giai đoạn 1929-1939
- 1929–1930 — Ivan Dmitrievich Udaltsov
- 1930–1934 — Vasily Nikolaevich Kasatkin
- 1934-1934 — Matvey Georgievich Kadek (quyền giám đốc)
- 1934–1939 — Alexey Sergeevich Butyagin
Giai đoạn 1939-nay
- 1939–1941 — Alexey Sergeevich Butyagin
- 1941–1942 — Boris Pavlovich Orlov (quyền hiệu trưởng – khu vực Moscow)
- 1941–1942 — Mikhail Mikhailovich Filatov (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad)
- 1943-1943 — Ilya Savvich Galkin (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad và Sverdlovsk)
- 1943-1943 — Alexey Sergeevich Butyagin
- 1943–1947 — Ilya Savvich Galkin
- 1948–1951 — Alexander Nikolaevich Nesmeyanov
- 1951–1973 — Ivan Georgievich Petrovsky
- 1973–1977 — Rem Viktorovich Khokhlov
- 1977–1992 — Anatoly Alekseevich Logunov
- 1992-nay — Viktor Antonovich Sadovnichy
Tham khảo
- ↑ Мониторинг (ВО). Информационно-аналитические материалы по результатам проведения мониторинга эффективности деятельности образовательных организаций высшего образования 2023 года
- ↑ Việt Nam trao tặng Huân chương Hữu nghị cho ba trường đại học Liên bang Nga 29 Tháng Mười Một, 2018
- ↑ Распоряжение Правительства Российской Федерации от 8 апреля 2009 г. № 480-р
- ↑ Новости университета | Официальный сайт НИЯУ МИФИ
- ↑ Росатом Госкорпорация «Росатом» ядерные технологии атомная энергетика АЭС ядерная медицина
- ↑ Роскосмос определил перечень опорных университетов
- ↑ Проект 5-100: итоги программы
- ↑ Совет Проекта «5-100» подвёл итоги работы
- ↑ НИЯУ МИФИ совместно с ВАВТом запустил новую образовательную программу
- ↑ Ректоры МИФИ — Энциклопедия МИФИ
- ↑ Щербакова О.М. Выпускник МГТУ Борис Львович Ванников в годы Великой Отечественной войны (1941-1945)
- ↑ Отчёт Национального исследовательского ядерного университета «МИФИ» о результатах самообследования за 2018 год
- ↑ История. Официальный сайт НИЯУ МИФИ
- ↑ О переименовании Московского государственного инженерно-физического института (технического университета) в Московский инженерно-физический институт государственный университет МИФИ — Электронный фонд правовой и нормативно-технической документации справочных систем «Кодекс» и «Техэксперт»
- ↑ Программа создания и развития федерального государственного бюджетного образовательного учреждения высшего профессионального образования "Национальный исследовательский ядерный университет "МИФИ" на 2009-2017 годы • Справочник по законодательству «Наука, законодательство и право»
- ↑ World Reputation Rankings Times Higher Education (THE) 30 мая 2018.
- ↑ World University Rankings Times Higher Education (THE) 26 сентября 2018.
- ↑ Out Now: QS World University Rankings by Subject 2019 Top Universities (26 февраля 2019)
- ↑ Билык, Кирилл. HeadHunter составил рейтинг лучших российских вузов 2022 года
- ↑ Федеральный закон от 10.11.2009 г. № 259-ФЗ. Сайт Президента России (10 ноября 2009)
- ↑ В МГУ будут обучать студентов в течение шести лет
- ↑ В МГУ появятся семь научных школ. ТАСС (7 октября 2020)
- ↑ Для студентов очной формы обучения третьих и четвёртых курсов, обучающихся по программам специалитета, третьего курса бакалавриата и первого курса магистратуры.
- ↑ Межфакультетские учебные курсы Московского государственного университета имени М. В. Ломоносова
- ↑ Учреждение носило название «Специализированная школа-интернат № 18 физико-математического профиля при Московском государственном университете им. М. В. Ломоносова» или ФМШ-18 (1963—1988).
- ↑ Постановление Совета Министров СССР № 1241 от 21.10.1988
- ↑ Французский колледж при МГУ: наука и культура вопреки политике
- ↑ Французский университетский колледж отметил юбилей
- ↑ Французский университетский колледж МГУ
- ↑ Французский университетский колледж отметил 25-й юбилей
- ↑ В Словении закрыли единственный европейский филиал МГУ
- ↑ Ректор МГУ сообщил о закрытии филиала вуза в Словении
- ↑ В МГУ появятся семь научных школ
- ↑ В МГУ появятся 7 новых научно-образовательных школ
- ↑ Янковский Р. М. Высотка номер один: история и архитектура Главного здания МГУ. — М.: Бомбора, 2021. — 184 с. — 1500 экз. — ISBN 978-5-04-116390-7, с. 109.
- ↑ Сталинские высотные здания
- ↑ Николай Кружков Из истории московских небоскребов. Все московские высотки были заложены в один день. Главному зданию МГУ – 50 лет
- ↑ Главное здание Московского университета. Географический факультет МГУ имени М. В. Ломоносова
- ↑ Сталинские высотки — Главное здание Московского государственного университета
- ↑ Филипп Алексенко, Анна Ким. Как строились сталинские высотки
- ↑ Премия имени М. В. Ломоносова
- ↑ Решение Учёного Совета МГУ от 7 декабря 1997 года.
- ↑ Положение о присвоении почётных званий МГУ