Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia MEPhI
| ĐẠI HỌC NGHIÊN CỨU HẠT NHÂN QUỐC GIA MEPHI | ||
| Национальный исследовательский ядерный университет «МИФИ» | ||
| НИЯУ МИФИ | ||
| Tên quốc tế | National Research Nuclear University MEPhI (Moscow Engineering Physics Institute) | |
|---|---|---|
| Tên viết tắt | МИФИ, MIFI, MEPhI | |
| Tên cũ | - Viện Cơ khí Đạn dược Moscow, - Viện Cơ khí Moscow, - Viện Vật lý Hạt nhân Moscow, - Viện Vật lý Hạt nhân Quốc gia Moscow (Đại học Kỹ thuật), - Viện Vật lý Hạt nhân Moscow (Đại học Nhà nước) | |
| Tiêu ngữ | Дорогу осилит идущий Viam supervadet vadens Người đi thì sẽ đến đích | |
| Thành lập | 13 Tháng Mười Một, 1942 | |
| Địa chỉ | 115409, Москва, Каширское ш., 31 | |
| Website | mephi.ru | |
| Sinh viên | 39.282 (2024) [1] | |
| Sv đại học | 6.759 (2023) | |
| Sv quốc tế | ||
| Thành tích | ||
| Huân chương Cờ đỏ Lao động (Liên Xô) Huân chương Hữu nghị (Việt Nam) [2] |
||
Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia MEPhI (tiếng Nga: Национальный исследовательский ядерный университет «МИФИ») là một trong hai trường đại học nghiên cứu quốc gia đầu tiên tại Nga (cùng với Đại học MISiS), được thành lập vào ngày 8 tháng 4 năm 2009 trên cơ sở Đại học Vật lý Hạt nhân MIFI (tên tiếng Nga: Московского инженерно-физического института (государственного университета)) [3].
MEPhI có lịch sử bắt nguồn từ Viện Cơ khí Đạn dược Moscow, được thành lập vào ngày 23 tháng 11 năm 1942. Các lớp học bắt đầu vào ngày 1 tháng 1 năm 1943. Địa chỉ đầu tiên của Viện là Phố Kirov (nay là Phố Myasnitskaya) trong Dinh thự Yushkov nổi tiếng. Mục tiêu ban đầu của Viện là đào tạo các chuyên gia cho các chương trình quân sự và hạt nhân của Liên Xô.
Có một lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân dạng hồ bơi trong khuôn viên trường đại học. Năm 2024, sau thời gian dài ngừng hoạt động (hơn 13 năm), lò phản ứng này đã tiếp tục hoạt động [4].
Trường đại học này là trường đại học hàng đầu của các Tập đoàn Nhà nước là Rosatom [5] và Roscosmos [6], đồng thời cũng là đối tác của Rosfinmonitoring và Kaspersky Lab .
Là một đơn vị tham gia Проекта 5-100 [7] (một dự án nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường đại học hàng đầu của Nga trong số các trung tâm khoa học và giáo dục hàng đầu thế giới), theo kết quả phân tích báo cáo của những đơn vị tham gia dự án năm 2017, đây là một trong 8 đơn vị dẫn đầu [8].
Cùng với Học viện Ngoại thương Nga, MEPhI đã khởi xướng chương trình giáo dục “bằng kép” trong các lĩnh vực “Vật lý và Công nghệ hạt nhân” và “Kinh tế” [9].
Lịch sử
Ngày 23 tháng 11 năm 1942, Nghị quyết số 1871-872 của Hội đồng Dân ủy Liên Xô đã được ký kết về việc thành lập Viện Cơ khí Đạn dược Moscow (tiếng Nga: Московского механического института боеприпасов (ММИБ)) thuộc Bộ Dân ủy Đạn dược trên cơ sở Nhà máy Đạn dược Moscow số 398. Viện được trao lại các tòa nhà của Viện In ấn Moscow đã sơ tán - ngôi nhà số 21 (Dinh thự Yushkov) trên phố Kirov (nay là phố Myasnitskaya).
Tổng diện tích được phân bổ cho Viện Cơ khí Đạn dược Moscow là 10.810 m², bao gồm 9 phòng học, 13 phòng làm việc, 2 phòng khách, 1 xưởng gia công kim loại và cơ khí, 1 phòng tập thể dục và 1 phòng giải trí. Một khẩu pháo 75mm được đặt trong hội trường dưới mái kính. Khi đó, hệ thống sưởi ấm, cấp nước và thoát nước thải không hoạt động, và điện cũng chỉ được cung cấp 4 giờ mỗi ngày.
Viện được thành lập với ba khoa: Khoa Ống và kíp nổ; Khoa Đạn pháo, mìn, bom trên không; Khoa Đạn và Vỏ đạn. Ngoài ra còn có 21 bộ môn chuyên ngành. Tổng số giảng viên ban đầu là 101 người. Quyền Giám đốc đầu tiên của Viện là ông Aleksei Dygern, nguyên Giám đốc Viện In ấn, và quyền Phó giám đốc là ông Leonid Bakhmetyev, nguyên Phó Giám đốc Viện In ấn [10].
Ngày 1 tháng 4 năm 1943, kỹ sư Anton Fomenko được bổ nhiệm làm Giám đốc chính thức đầu tiên. Năm 1944, Viện tiếp nhận thêm tòa nhà số 12 trên phố Malaya Pionerskaya. Đợt tốt nghiệp đầu tiên diễn ra vào mùa xuân năm 1945 [11].
Ngày 16 tháng 1 năm 1945, Viện được đổi tên thành Viện Cơ khí Moscow. Năm 1952, theo Sắc lệnh của Chính phủ Liên Xô, 4 chi nhánh đầu tiên của viện được thành lập tại các thành phố hạt nhân khép kín (Ozersk, Novouralsk, Lesnoy, Sarov) nhằm đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp hạt nhân [12].
Ngày 28 tháng 10 năm 1953, Viện đổi tên thành Viện Vật lý Hạt nhân Moscow (MIFI). Năm 1962, khu phức hợp tòa nhà MEPhI tại đường Kashirskoye bắt đầu đi vào hoạt động. Năm 1967, lò phản ứng nghiên cứu của MEPhI được đưa vào vận hành [13].
Ngày 22 tháng 11 năm 1993, theo quyết định của Ủy ban Nhà nước về Giáo dục Đại học Liên bang Nga, tên gọi được đổi thành Viện Vật lý Hạt nhân Quốc gia Moscow (Đại học Kỹ thuật).
Ngày 13 tháng 12 năm 2001, theo lệnh của Bộ Giáo dục Liên bang Nga, tên gọi được đổi thành Viện Vật lý Hạt nhân Quốc gia Moscow (Đại học Quốc gia) [14].
Tháng 4 năm 2009, theo quyết định của Chính phủ Nga, trường được đổi tên thành Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia MEPhI, đồng thời được tái cơ cấu bằng cách sáp nhập 5 cơ sở giáo dục đại học và 12 cơ sở giáo dục nghề trung cấp nằm tại các thành phố có sự hiện diện của Tập đoàn Năng lượng hạt nhân Liên bang Nga ROSATOM [15].
Uy tín và Xếp hạng
Năm 2021, Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia MEPhI đã góp mặt trong hơn 20 bảng xếp hạng theo lĩnh vực của các tổ chức danh tiếng như QS, THE, ARWU, U.S. News & World Report, RUR và các bảng xếp hạng khác, đồng thời cũng có mặt trong tất cả các bảng xếp hạng học thuật tổng thể uy tín hàng đầu thế giới.
Trong bảng xếp hạng tổng thể Round University Rankings, vào năm 2012, Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia MEPhI xếp hạng 531 thế giới, và đến năm 2022, lần đầu tiên lọt vào top 100 đại học hàng đầu toàn cầu, với vị trí thứ 96.
Trong bảng xếp hạng U.S. News & World Report của Mỹ, ở lĩnh vực Vật lý, MEPhI đã liên tục cải thiện vị trí, từ hạng 127 (năm 2016) lên hạng 34 toàn cầu (năm 2021) [16].
Trong 8 năm liên tiếp (từ 2014 đến 2022), MEPhI luôn nằm trong top 100 bảng xếp hạng QS của Anh ở lĩnh vực Vật lý & Thiên văn học [17].
Hoạt động giáo dục
Năm 2013, trong khuôn khổ Dự án Thí điểm của Sở Giáo dục thành phố Moscow về tổ chức đào tạo chuyên sâu tại các cơ sở giáo dục đại học quốc gia liên bang (theo Nghị định số 566-ПП của Chính quyền thành phố Moscow) [18], Trường Dự bị Đại học MEPhI đã được thành lập. Đây là một phần trong hệ thống đại học thống nhất, chuyên đào tạo đội ngũ kỹ sư chất lượng cao, đảm bảo chuẩn giáo dục kỹ thuật đạt tầm quốc tế.
Cơ cấu của Trường Dự bị Đại học bao gồm: Trường Trung học phổ thông Đại học số 1511, Trường Trung học phổ thông Đại học số 1523, Trung tâm đào tạo dự bị đại học, Trung tâm hỗ trợ công nghệ giáo dục, các lớp chuyên trong các trường phổ thông liên kết, và các phòng thí nghiệm nghiên cứu đặt tại các trường phổ thông và trung học.
Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia MEPhI cũng tổ chức nhiều kỳ Olympic khoa học dành cho học sinh phổ thông, như: Olympic Vật lý - Toán học Hạt nhân “Rosatom” [19], Cuộc thi khoa học toàn quốc cho học sinh “Junior”, và Olympic kỹ thuật dành cho học sinh phổ thông (phối hợp cùng các trường đại học khác). Các kỳ thi này đều nằm trong danh sách chính thức các kỳ Olympic học sinh do Hội đồng Olympic Học sinh Nga (Российский совет олимпиад школьников - РСОШ) công bố hàng năm.
MEPhI cũng triển khai một loạt các dự án giáo dục phối hợp với Tập đoàn nhà nước “Rosatom” tại các thành phố có doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp hạt nhân [20] [21]. Trong khuôn khổ dự án Trường học Rosatom, các giáo viên bộ môn khoa học tự nhiên được tham gia khóa bồi dưỡng chuyên môn và hội thảo trực tuyến; học sinh được học qua các bài giảng trực tuyến luyện thi ЕГЭ, ôn luyện olympic và các bài giảng phổ thông truyền cảm hứng. Với hỗ trợ khoa học và phương pháp từ MEPhI, các Lớp học hạt nhân (Атомклассы) đã được mở tại nhiều thành phố trên cả nước [22].
Cấu trúc
Từ năm 2016, việc tuyển sinh vào các chương trình giáo dục đại học và sau đại học chính quy tại Đại học Nghiên cứu Hạt nhân Quốc gia MEPhI đã được thực hiện theo các khoa cấu trúc mới [23]:
Các Viện và Khoa (Cơ sở Moskva) [24]
- Viện Vật lý Hạt nhân và Công nghệ (ИЯФиТ)
- Viện Công nghệ Plasma và Laser (Viện LaPlaz) (Институт «ЛаПлаз»)
- Viện Công nghệ Nano trong Điện tử, Spintronics và Quang tử (ИНТЭЛ)
- Viện Hệ thống Điều khiển Thông minh và Điều khiển học (ИИКС)
- Viện Hệ thống Vật lý - Kỹ thuật Thông minh (ИФТИС)
- Viện Kỹ thuật Y sinh Vật lý (ИФИБ)
- Viện Công nghệ Tài chính và An ninh Kinh tế (ИФТЭБ) [25]
- Viện Quan hệ Quốc tế (ИМО)
- Trường Kỹ thuật cao cấp (ВИШ) [26]
- Khoa Tin học Kinh doanh và Quản lý Hệ thống Phức hợp (ФБИУКС)
- Khoa Đào tạo Bán thời gian/Buổi tối (ВФ)
Các đơn vị đào tạo khác
- Viện Đào tạo Chuyên ngành Cơ bản (ИОПП)
- Viện Các vấn đề nền tảng của Khoa học Xã hội - Nhân văn (ИФП СГН)
- Khoa Sinh viên Quốc tế (ФИФ)
- Khoa Bồi dưỡng và Tái đào tạo Cán bộ (ФПКПК) – Trưởng khoa: Sergey Vasilievich Kireev
Các phân hiệu trực thuộc [27]
VO – Giáo dục đại học | SPO – Giáo dục trung cấp chuyên nghiệp
- Viện Năng lượng Nguyên tử Obninsk (thành phố Obninsk) – VO & SPO (gia nhập MEPhI năm 2009) [28]
- Viện Công nghệ Ozersk (thành phố Ozersk) – VO & SPO
- Viện Công nghệ Lesnoy (thành phố Lesnoy) – VO & SPO
- Viện Công nghệ Trehgorny (thành phố Trehgorny) – VO & SPO
- Viện Công nghệ Seversk (thành phố Seversk) – VO (gia nhập năm 2009)
- Viện Vật lý - Kỹ thuật Saro (thành phố Sarov) – VO & SPO (thành lập năm 1952, gia nhập năm 2009)
- Viện Vật lý - Kỹ thuật Snezhinsk (thành phố Snezhinsk) – VO & SPO (gia nhập năm 2009)
- Viện Kỹ thuật Volgodonsk (thành phố Volgodonsk) – VO & SPO
- Viện Công nghệ NovoUralsk (thành phố NovoUralsk) – VO & SPO
- Viện Kỹ thuật - Công nghệ Dimitrovgrad (thành phố Dimitrovgrad) – VO & SPO
- Viện Kỹ thuật - Công nghệ Balakovo (thành phố Balakovo) – VO & SPO
- Viện Bách khoa Novovoronezh (thành phố Novovoronezh) – VO & SPO
- Phân hiệu Almaty (Almaty, Kazakhstan) – VO (thành lập năm 2022)[29]
- Phân hiệu Tashkent (Tashkent, Uzbekistan) – VO (thành lập năm 2018) [30]
Phân hiệu – Trường Cao đẳng MEPhI
- Trường Cao đẳng Bách khoa tỉnh Moscow (thành phố Elektrostal) – SPO
- Trường Cao đẳng Công nghệ Ural – UrTK MEPhI (thành phố Zarechny, tỉnh Sverdlovsk) – SPO
Dự bị đại học [31]
- Trường Dự bị Đại học MEPhI
- Trường Trung học phổ thông MEPhI số 1511
- Trường Trung học phổ thông MEPhI số 1523
- Trung tâm hỗ trợ công nghệ giáo dục
- Trường phổ thông buổi tối
- Trường Dự bị của Viện Công nghệ MEPhI (thành phố Lesnoy) [32]
Khuôn viên

Tòa nhà chính
Tòa nhà chính của Đại học Quốc gia Moscow, Главное здание МГУ - ГЗ МГУ, trong các tài liệu chính thức đôi khi được gọi là Главным корпусом МГУ, là tòa nhà trung tâm của khu phức hợp trường đại học thuộc trên Đồi Chim sẻ (Воробьёвых горах). Tòa nhà chọc trời cao nhất trong Bảy tòa nhà được xây dựng theo phong cách Stalin (Сталинских высоток). Chiều cao: 183,2 mét (nếu tỉnh cả đỉnh tháp là 235 mét [33]), số tầng ở tòa nhà trung tâm: 32 tầng [34] [35]. Chiều cao của chân đế so với mực nước biển là 194m [36]. Được xây dựng vào năm 1949-1953 theo thiết kế của các kiến trúc sư Boris Iofan, Lev Rudnev, Sergei Chernyshev, Pavel Abrasimov, Alexander Khryakov và kỹ sư Vsevolod Nasonov. Xưởng của Vera Mukhina phụ trách trang trí điêu khắc cho mặt tiền. Cho đến những năm 1990, tòa nhà này là tòa nhà cao nhất châu Âu [37] [38].
Phần trung tâm (khu «А») có 36 tầng. Văn phòng hiệu trưởng và các dịch vụ và tổ chức chung của trường đại học, hội đồng thanh niên, các khoa cơ học và toán học , địa lý và địa chất, bảo tàng khoa học trái đất, các phòng thí nghiệm và giảng đường chung của trường đại học, thư viện và các cơ sở phục vụ ăn uống đều tọa lạc tại đây.
Từ phần trung tâm, các tòa nhà ký túc xá 18 tầng (khu «Б» và «В») với các tòa tháp cao tới tầng 24 kéo dài. Từ các khu vực này, lần lượt phân ra các khu vực 9 tầng «Г», «Д», «Е» и «Ж», cũng là nơi có nhà trọ và khách sạn. Các tòa tháp liền kề với tòa nhà chính («И», «К», «Л», «М») là nơi có các căn hộ dành cho giáo sư và giáo viên.
Cựu sinh viên nổi tiếng
Trong số những sinh viên tốt nghiệp của trường có những người đoạt giải Nobel , giải thưởng Fields và các chính trị gia lớn, bao gồm cả các nhà lãnh đạo quốc gia.
Những người đoạt giải Nobel Vật lý
- Igor Evgenievich Tamm
- Ilya Mikhailovich Frank
- Vitaly Lazarevich Ginzburg
- Alexey Alexeevich Abrikosov
Những người đoạt giải Nobel Hóa học
- Nikolai Nikolaevich Semenov
Những người đoạt giải Nobel Hòa bình
- Andrei Dmitrievich Sakharov
- Mikhail Sergeevich Gorbachev
Những người đoạt Huy chương Fields
- Sergei Petrovich Novikov
- Grigory Aleksandrovich Margulis
- Vladimir Gershonovich Drinfeld
- Maxim Lvovich Kontsevich
- Vladimir Aleksandrovich Voevodsky
- Andrey Yuryevich Okounkov
Cựu sinh viên Việt Nam nổi bật
- Giáo sư Hoàng Tụy tốt nghiệp năm 1959, là một trong hai người tiên phong trong việc xây dựng ngành Toán học của Việt Nam (cùng với Giáo sư Lê Văn Thiêm). Giáo sư Hoàng Tụy được coi là cha đẻ của lĩnh vực Tối ưu hóa toàn cục trong Toán học ứng dụng.
- Giáo sư Phan Lương Cầm tốt nghiệp năm 1974, phu nhân cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nữ giáo sư - tiến sĩ đầu tiên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Bà là một trong những người sáng lập và Chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học - Kỹ thuật Ăn mòn và Bảo vệ Kim loại Việt Nam.
- Nhà báo Nguyễn Đăng Phát tốt nghiệp năm 1977, một trong bốn sinh viên Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp ngành báo chí tại MGU, Tổng thư ký Hội hữu nghị Việt-Nga, Nguyên Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam.
- Giáo sư Nguyễn Đình Đức tốt nghiệp năm 1990, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Việt Nam, Nguyên Chủ tịch Hội đồng trường đầu tiên của Trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN.
Giải thưởng và chứng nhận mà Đại học Quốc gia Moscow cấp
Giải thưởng cao nhất của Đại học Moscow, Giải thưởng Lomonosov, được thành lập theo Nghị quyết của Hội đồng Dân ủy Liên Xô vào ngày 29 tháng 5 năm 1944; những người đoạt giải đầu tiên đã được trao giải thưởng vào cùng năm đó [39]. Từ năm 1993, Giải thưởng Lomonosov cũng được trao cho các hoạt động giảng dạy.
Giải thưởng Shuvalov là giải thưởng được trao cho các giáo sư, giảng viên và cán bộ nghiên cứu của Đại học Quốc gia Moscow vì công trình khoa học, được thành lập năm 1993 như một phần của chương trình hỗ trợ thanh thiếu niên tài năng.
Từ năm 1998 [40], 4 loại danh hiệu danh dự đã được đưa vào hệ thống khuyến khích và giải thưởng tại Đại học Tổng hợp Moscow: Giáo sư danh dự, Nghiên cứu viên danh dự, Giáo viên danh dự và Nhân viên danh dự [41].
Học bổng MGU được trao hàng năm cho giáo viên và cán bộ nghiên cứu của MGU dưới 33 tuổi, có bằng cấp học thuật và đạt được thành tích đáng kể trong lĩnh vực giảng dạy và hoạt động nghiên cứu. Những kết quả này cần được phản ánh trong sách giáo khoa, phương tiện giảng dạy, các phát triển về phương pháp giảng dạy, cũng như trong các ấn phẩm trên các tạp chí và ấn phẩm khoa học hàng đầu được bình duyệt .
Hiệu trưởng
Giai đoạn 1755–1803
- 1755–1757 — Alexey Mikhailovich Argamakov
- 1757–1763 — Ivan Ivanovich Melissino
- 1763–1770 — Mikhail Matveevich Kheraskov
- 1770–1771 — Anton Antonovich Teil's (quyền giám đốc)
- 1771–1784 — Mikhail Vasilievich Priklonsky
- 1784–1796 — Pavel Ivanovich Fonvizin
- 1796–1803 — Ivan Petrovich Turgenev
Giai đoạn 1803-1917
- 1803–1805 — Khariton Andreevich Chebotaryov
- 1805–1807 — Pyotr Ivanovich Strakhov
- 1807–1808 — Fyodor Grigoryevich Bauze
- 1808–1819 — Ivan Andreevich Geim
- 1819–1826 — Anton Antonovich Prokopovich-Antonsky
- 1826–1833 — Ivan Alekseevich Dvigubsky
- 1833–1836 — Alexey Vasilievich Boldyrev
- 1837–1842 — Mikhail Trofimovich Kachenovsky
- 1842–1848 — Arkady Alekseevich Alfonsky
- 1848–1850 — Dmitry Matveevich Perevoshchikov
- 1850–1863 — Arkady Alekseevich Alfonsky (lần 2)
- 1863–1870 — Sergey Ivanovich Barshev
- 1871–1877 — Sergey Mikhailovich Solovyov
- 1877–1883 — Nikolai Savvich Tikhonravov
- 1883–1887 — Nikolai Pavlovich Bogolepov
- 1887–1891 — Gavriil Afanasyevich Ivanov
- 1891–1893 — Nikolai Pavlovich Bogolepov (lần 2)
- 1893–1898 — Pavel Alekseevich Nekrasov
- 1898-1898 — Nikolai Andreevich Zverev
- 1898–1899 — Dmitry Nikolaevich Zernov
- 1899–1904 — Alexander Andreevich Tikhomirov
- 1904–1905 — Leonid Kuzmich Lakhtin
- 1905-1905 — Sergey Nikolaevich Trubetskoy
- 1905–1911 — Alexander Apollonovich Manuilov
- 1911–1917 — Matvey Kuzmich Lyubavsky
Giai đoạn 1917-1919
- 1917–1919 — Mikhail Aleksandrovich Menzbir
- 1919-1919 — Vladimir Sergeevich Gulevich
- 1919–1920 — Mikhail Mikhailovich Novikov
Giai đoạn 1920-1921
- 1920–1921 — Dmitry Petrovich Bogolepov
- 1921-1921 — Vyacheslav Petrovich Volgin
Giai đoạn 1921-1929
- 1921–1925 — Vyacheslav Petrovich Volgin
- 1925–1928 — Andrey Yanuarievich Vyshinsky
- 1928–1929 — Ivan Dmitrievich Udaltsov (quyền hiệu trưởng)
Giai đoạn 1929-1939
- 1929–1930 — Ivan Dmitrievich Udaltsov
- 1930–1934 — Vasily Nikolaevich Kasatkin
- 1934-1934 — Matvey Georgievich Kadek (quyền giám đốc)
- 1934–1939 — Alexey Sergeevich Butyagin
Giai đoạn 1939-nay
- 1939–1941 — Alexey Sergeevich Butyagin
- 1941–1942 — Boris Pavlovich Orlov (quyền hiệu trưởng – khu vực Moscow)
- 1941–1942 — Mikhail Mikhailovich Filatov (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad)
- 1943-1943 — Ilya Savvich Galkin (quyền hiệu trưởng – khu vực Ashkhabad và Sverdlovsk)
- 1943-1943 — Alexey Sergeevich Butyagin
- 1943–1947 — Ilya Savvich Galkin
- 1948–1951 — Alexander Nikolaevich Nesmeyanov
- 1951–1973 — Ivan Georgievich Petrovsky
- 1973–1977 — Rem Viktorovich Khokhlov
- 1977–1992 — Anatoly Alekseevich Logunov
- 1992-nay — Viktor Antonovich Sadovnichy
Tham khảo
- ↑ Мониторинг (ВО). Информационно-аналитические материалы по результатам проведения мониторинга эффективности деятельности образовательных организаций высшего образования 2023 года
- ↑ Việt Nam trao tặng Huân chương Hữu nghị cho ba trường đại học Liên bang Nga 29 Tháng Mười Một, 2018
- ↑ Распоряжение Правительства Российской Федерации от 8 апреля 2009 г. № 480-р
- ↑ Новости университета | Официальный сайт НИЯУ МИФИ
- ↑ Росатом Госкорпорация «Росатом» ядерные технологии атомная энергетика АЭС ядерная медицина
- ↑ Роскосмос определил перечень опорных университетов
- ↑ Проект 5-100: итоги программы
- ↑ Совет Проекта «5-100» подвёл итоги работы
- ↑ НИЯУ МИФИ совместно с ВАВТом запустил новую образовательную программу
- ↑ Ректоры МИФИ — Энциклопедия МИФИ
- ↑ Щербакова О.М. Выпускник МГТУ Борис Львович Ванников в годы Великой Отечественной войны (1941-1945)
- ↑ Отчёт Национального исследовательского ядерного университета «МИФИ» о результатах самообследования за 2018 год
- ↑ История. Официальный сайт НИЯУ МИФИ
- ↑ О переименовании Московского государственного инженерно-физического института (технического университета) в Московский инженерно-физический институт государственный университет МИФИ — Электронный фонд правовой и нормативно-технической документации справочных систем «Кодекс» и «Техэксперт»
- ↑ Программа создания и развития федерального государственного бюджетного образовательного учреждения высшего профессионального образования "Национальный исследовательский ядерный университет "МИФИ" на 2009-2017 годы • Справочник по законодательству «Наука, законодательство и право»
- ↑ National Research Nuclear University
- ↑ QS World University Rankings for Physics & Astronomy 2022
- ↑ ПРАВИТЕЛЬСТВО МОСКВЫ. ПОСТАНОВЛЕНИЕ от 28 августа 2013 года N 566-ПП
- ↑ Отраслевая физико-математическая олимпиада школьников «Росатом»
- ↑ Отраслевая физико-математическая олимпиада школьников «Росатом» Официальный сайт НИЯУ МИФИ
- ↑ Ростовская АЭС: для выпускников школ открыта общественная приёмная госкорпорации «Росатом» Российское атомное сообщество (31 мая 2017)
- ↑ Инновационная сеть образовательных организаций. Проект «Школа Росатома»
- ↑ Образовательная структура университета Приёмная комиссия НИЯУ МИФИ
- ↑ Институты / Факультеты | Официальный сайт НИЯУ МИФИ
- ↑ Руководство
- ↑ Руководство | Официальный сайт НИЯУ МИФИ
- ↑ Сведения об обособленных подразделениях | Официальный сайт НИЯУ МИФИ
- ↑ История | ИАТЭ НИЯУ "МИФИ"
- ↑ В Алматы открылся филиал МИФИ для подготовки специалистов в сфере ядерной энергетики и IT
- ↑ История Ташкентский филиал НИЯУ МИФИ
- ↑ Предуниверситарий НИЯУ МИФИ | Официальный сайт НИЯУ МИФИ
- ↑ Предуниверситарий ТИ НИЯУ МИФИ | Официальный сайт НИЯУ МИФИ
- ↑ Янковский Р. М. Высотка номер один: история и архитектура Главного здания МГУ. — М.: Бомбора, 2021. — 184 с. — 1500 экз. — ISBN 978-5-04-116390-7, с. 109.
- ↑ Сталинские высотные здания
- ↑ Николай Кружков Из истории московских небоскребов. Все московские высотки были заложены в один день. Главному зданию МГУ – 50 лет
- ↑ Главное здание Московского университета. Географический факультет МГУ имени М. В. Ломоносова
- ↑ Сталинские высотки — Главное здание Московского государственного университета
- ↑ Филипп Алексенко, Анна Ким. Как строились сталинские высотки
- ↑ Премия имени М. В. Ломоносова
- ↑ Решение Учёного Совета МГУ от 7 декабря 1997 года.
- ↑ Положение о присвоении почётных званий МГУ