Thể loại:Vùng liên bang Siberi

Vùng liên bang Siberi (tiếng Nga: Сиби́рский федера́льный о́круг, đã Latinh hoá: Sibirsky federalny okrug) là một trong 8 vùng của Liên bang Nga. Dân số của vùng là 20,062,938 người (70.8% là dân thành thị) theo điều tra dân số năm 2002, diện tích vùng là 5.114.800 km².
Diện tích của Vùng liên bang Siberi chiếm 25,47% lãnh thổ của Liên bang Nga (lớn thứ hai, kém hơn một chút so với Vùng liên bang Viễn Đông). Vùng liên bang Siberi có cả biên giới trên bộ và trên biển.
Trung tâm hành chính và thành phố lớn nhất của Vùng liên bang Siberi là Novosibirsk, đây cũng là thành phố lớn nhất ở phần châu Á của Nga .
Các chủ thể liên bang
Vùng liên bang Siberi được thành lập theo Sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga ngày 13 tháng 5 năm 2000, bao gồm chủ thể Liên bang.
Theo Sắc lệnh số 632 của Tổng thống Nga ngày 3 tháng 11 năm 2018, nước cộng hòa Buryatia và tỉnh đặc thù Trans-Baikal , trước đây là một phần của Vùng liên bang Siberia , đã được chuyển sang vùng liên bang Viễn Đông [1]. Đây là trường hợp duy nhất chuyển giao chủ thể từ một vùng liên bang này sang vùng liên bang khác mà không liên quan đến việc thành lập hoặc giải thể các vùng liên bang này.
| № | Chủ thể liên bang | Diện tích (km²) | Dân số | Trung tâm hành chính |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Cộng hòa Altai | 92.903 | 210.765 | Gorno-Altaysk |
| 2 | Tỉnh đặc thù Altai | 167.996 | 2.115.308 | Barnaul |
| 3 | Tỉnh Irkutsk | 774.846 | 2.330.537 | Irkutsk |
| 4 | Tỉnh Kemerovo–Kuzbass | 95.725 | 2.547.684 | Kemerovo |
| 5 | Tỉnh đặc thù Krasnoyarsk | 2.366.797 | 2.846.120 | Krasnoyarsk |
| 6 | Tỉnh đặc thù Novosibirsk | 177.756 | 2.789.532 | Novosibirsk |
| 7 | Tỉnh Omsk | 141.140 | 1.818.093 | Omsk |
| 8 | Tỉnh Tomsk | 314.391 | 1.043.385 | Tomsk |
| 9 | Cộng hòa Tuva | 168.604 | 337.544 | Kyzyl |
| 10 | Cộng hòa Khakassia | 61.569 | 528.175 | Abakan |
Các thành phố lớn

Trong hình, các thành phố trên 1 triệu dân được hiển thị bằng chấm tròn to màu đỏ. Các thành phố trên 500.000 dân được hiển thị bằng chấm tròn màu cam. Các thành phố trên 200.000 dân được hiển thị bằng chấm tròn nhỏ màu lục. Các thành phố trên 200.000 dân được hiển thị bằng chấm tròn nhỏ màu lam. Số liệu được cập nhật đến ngày 1/1/2024 [2] .
Các thành phố và khu định cư trên 150 ngàn dân
- Novosibirsk – 1.644.423
- Omsk – 1.125.474
- Krasnoyarsk – 1.180.279
- Barnaul – 630.877
- Irkutsk – 620.886
- Kemerovo – 517.854
- Tomsk – 575.879
- Novokuznetsk – 537.848
- Ulan-Ude – 435.751
- Chita – 333.159
- Abakan – 187.239
- Biysk – 181.758
- Rubtsovsk – 147.002
- Gorno-Altaysk – 152.051
- Kyzyl – 168.931
Tham khảo
- ↑ Указ Президента Российской Федерации от 3 ноября 2018 года № 632 «О внесении изменений в перечень федеральных округов, утверждённый Указом Президента Российской Федерации от 13 мая 2000 года № 849»
- ↑ Российской Федерации по муниципальным образованиям на 1 января 2024 года Федеральная служба государственной статистики (27 апреля 2024)
Thể loại này hiện không có trang hay tập tin nào.